DICH


10 – 14, 15 tháng 6.
Макалле (Macahe), loại 600, seria Adua, Ý, 683/956 tấn, lượng dự trữ nổi 36%, kíp tàu biên chế 44 người (4 sỹ quan, 40 hạ sỹ quan). Đưa vào hoạt động ngày 01 tháng 3 năm 1937. Thời gian phục vụ 3 năm 1 tháng. Trên tàu có 45 người.

Sơ đồ tàu ngầm Macahe
Ngày 10 tháng 6, khi bắt đầu các hoạt động quân sự của Ý chống lại liên quân, tàu ngầm Макалле đã rời căn cứ Массау đến cảng Судан để thực hiện các hoạt động quân sự trên vịnh Арабский. Vì độ ẩm cao nên máy điều hòa không khí đã hoạt động không đúng. Chúng đã vô tình đầu độc kíp tàu bởi khí metyl clorua (CH3Cl), việc hít khí này vào gây ra hiện tượng hôn mê cho kíp tàu.
Trong tình hình này ngày 14 tháng 6 trong thời gian quay về căn cứ Массау từ cảng Судан thì hoa tiêu đã mắc phải sai lầm ngớ ngẩn trong việc vạch hành trình, tại điểm có tọa độ gần 190N/380E tàu Макалле gặp phải sự cố hàng hải – theo tài liệu khác tàu đụng phải đá ngầm Барр-Муса-Сегир và phải để lại trên bãi cạn đảo Суакин (Судан), theo tài liệu khác, tàu bị mắc cạn bởi một tảng đá ngầm nhỏ Барр-Муса-Сегир. Ngày 15 tháng 6 trong sự lẩn tránh khỏi bao vây của kẻ địch thì tàu ngầm Макалле đã bị nổ tung bởi kíp tàu của mình. Thảm họa đã xảy ra ở nơi hoang vắng và bộ phận lớn các thuyền viên còn sống được cứu chỉ một tuần sau đó bởi tàu ngầm Гульелъмоттa.
15 tháng 6 và sau đó
Морс (Q-117 Morse), loại Requin, Pháp, 974/1441 tấn, lượng dự trữ nổi 45%, kíp tàu biên chế 54 người (4 sỹ quan, 10 hạ sỹ quan và 30 thuyền viên). Hạ thủy ngày 18 tháng 11 năm 1925. Đưa vào hoạt động ngày 10 tháng 2 năm 1928. Thời gian phục vụ hơn 12 năm.

Sơ đồ hình dáng bên ngoài của tàu ngầm Morse
Ở biển địa trung hải trên hành trình đến Сфакс (Тунис) tàu ngầm Морс bị chìm cùng với toàn bộ kíp tàu mà không rõ nguyên nhân. Theo một tài liệu khác thì tàu bị chìm vào ngày 15 tháng 6 bởi tàu ngầm của Ý Цурбо trên hành trình đến Сфакс (Тунис) tại điểm có tọa độ 36 ° 06 ' N / 11 ° 33 ' WA, theo tài liệu khác ngày 16 tháng 6 tàu bị thảm họa từ hậu quả mìn nổ của Pháp ở vịnh Тунисский biển địa trung hải trên khu vực đảo Керкеннa. Vị trí và thời gian thảm họa không được xác định. Trong thảm họa có 54 người chết.
18 tháng 6
Щ-214, thuyền trưởng đại úy Власов Владимир Яковлевич, thay thế thuyền trưởng theo chức vụ - chính trị viên Корольков Филипп Сергеевич (26 tháng 3 năm 1938 – tháng 6 năm 1942), trợ lý thuyền trưởng đại úy Бурнашев, Liên Xô, hạm đội biển đen, seria X, đưa vào hoạt động từ 10 tháng 4 năm 1939. Thời gian phục vụ 1 năm 2 tháng.
Ngày 18 tháng 6 trên khu vực ngọn hải đăng Херсонесский tàu ngầm Щ-214 thuộc hải đội tàu ngầm số 33, lữ đoàn tàu ngầm số 3, hạm đội biển đen phục vụ việc quay phim. Trong thời gian quay về căn cứ Севастополь từ hậu quả của hành động sai lầm của thuyền trưởng tàu ngầm đại úy Власов trong việc điều khiển tàu và sự thiếu kiểm tra từ phía trợ lý thuyền trưởng đại úy Бурнашев mà tàu ngầm đã bị nghiêng dọc về mũi và bị chìm xuống do đó đài chỉ huy bị va vào băng tuyết và các thiết bị quay phim ở trên.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia về hạm đội tàu chiến, ф. р-397, оп. 2, д. 222 (báo cáo về tai nạn của lữ đoàn tàu ngầm số 3, hạm đội biển đen trong giai đoạn từ 01 tháng 1 đến 01 tháng 11 năm 1940), л. 403 [ngày 18 tháng 6 năm 1940 tàu ngầm Щ-214.
Sự cố: tàu ngầm Щ-214 ở khu vực ngọn hải đăng Херсонесский với nhiệm vụ phục vụ quay phim, sau đó đã quay lại căn cứ với vận tốc nhỏ. Theo yêu cầu của người đại diện đoàn làm phim, dưới lệnh của thuyền trưởng thì tàu ngầm đã nhận thêm dằn chính và tăng tốc, vì nguyên nhân này mà tàu ngầm bị nghiêng dọc ở mũi 30 và chìm xuống. Nước đã tràn vào đài chỉ huy với người đang ở trên đó.
Hành động của các thuyền viên: thuyền trưởng tàu ngầm đã nhận thấy tàu đang chìm xuống, cho dừng động cơ diesel và đóng kín nắp mui tàu bên trên bởi vì nước đã tràn qua nắp mui tàu. Trợ lý thuyền trưởng đại úy Бурнашев nhìn thấy nước tràn vào trong buồng tàu đã đóng kín nắp buồng chỉ huy và ra lệnh « продуть 1-й номер»
Hậu quả: 1. Đài chỉ huy bị nước tràn vào. 2. Rơi vào mộng gỗ một lượng nước khoảng vài xô. 3. Rửa trôi và làm ướt những thiết bị quay phim trong đài chỉ huy.
Nguyên nhân sự cố, người có lỗi: sai lầm của thuyền trưởng đại úy Власов trong việc điều khiển tàu (sai lầm trong tính toán tính nổi của tàu khi tăng vận tốc hành trình). Trợ lý thuyền trưởng Бурнашев đã chểnh mảng trong nhiệm vụ của mình.]
20 tháng 6
Клайд (Clyde), thuyền trưởng trung úy Ингрэм (D. С. Ingram), Anh quốc, 2165/2680 tấn, lượng dự trữ nổi 22%, kíp tàu biên chế 61 người. Hạ thủy năm 1934. Đưa vào đội hình năm 1934. Thời gian phục vụ 5 năm.
Kemp Р. К. Н. М. Submarines. London, 1952, p. 148 [11 tháng 4 năm 1940 tàu ngầm Spearfish lại đi biển sau lần đi biển trước đó của nó đến vịnh Каттегат, bây giời dưới sự chỉ huy của trung úy Форбс, nó đã tấn công một tàu chiến của Đức mà hầu như không nhìn thấy trong đêm tối. Sau đó vài tuần mục tiêu đã được xác định và rõ ràng rằng tàu chiến của Đức Lutzow đã bị hư hỏng nghiêm trọng bởi 3 quả ngư lôi bắn vào.
Sau đó các tàu quân địch được phát hiện ngày càng ít hơn và ít hơn, chúng đã đi biển chỉ khi vào đêm và di chuyển với vận tốc lớn. Nhưng vào nửa sau của tháng 6 (20 tháng 6) trung úy Ингрэм trên tàu ngầm Clyde trong điều kiện biển có bão đã thực hiện cuộc tấn công tàu chiến mà hầu như không thể nhìn thấy trong đêm tối và thời tiết u ám. Tàu ngầm cố gắng phóng ngư lôi tấn công vào tàu chiến Gneisenau của Đức, khi nó đi đến phía nam dọc theo bờ biển Nauy với vận tốc lớn. Cuộc tấn công này được thực hiện trong điều kiện phức tạp, và có vẻ đã thành công, kết quả là tàu chiến của Đức đã bị hư hỏng trong vài tuần.
Nhưng chính tàu ngầm Clyde lại ở trên bờ vực của cái chết. Trong điều kiện thời tiết có bão tàu đã nhận thêm 8 tấn nước ngoài mạn để không bị trồi lên mặt nước trong cuộc tấn công. Ngay sau khi phóng ngư lôi tàu đã bắt đầu chìm xuống, và do độ nghiêng dọc về phía đuôi lớn nên tàu đã chìm xuống độ sâu 76m
Chỉ huy tàu không chỉ bị lo lắng về bom ngầm mà còn từ áp lực rất lớn của nước. Đuôi tàu ngầm bị chìm xuống sâu hơn 15m so với mũi tàu, còn đối với loại tàu ngầm này để tăng vận tốc khi nổi thì ở phía đuôi có tấm đuôi ngang. Như đã nêu trên dưới sự tác động của áp lực nước rất lớn làm cho cột chống bằng thép để chống khoang đuôi bị cong trước khi tàu ngầm nổi lên ở độ sâu an toàn.]
24 tháng 6 tàu ngầm Щ-208 và Щ-209 thuộc hải đội tàu ngầm số 32, lữ đoàn tàu ngầm số 3, hạm đội biển đen
Щ-208 đại úy Иванов Владимир Иванович, chính trị viên Рыжиков Фёдор Устинович, Liên Xô, hạm đội biển đen, seria X. Đưa vào hoạt động từ 09 tháng 3 năm 1937. Thời gian phục vụ 3 năm 3 tháng
Щ-209, đại úy Киселёв Иван Назарович (bổ nhiệm theo mệnh lệnh của quân ủy hải quân ngày 17 tháng 12 năm 1939 – 24 tháng 3 năm 1942, đã chết trong thời gian bay đến Нева) người thay thế là chính trị viên Родимцев Алексей Григорьевич, Liên Xô, hạm đội biển đen, seria X, đủa vào hoạt động 09 tháng 3 năm 1937. Thời gian phục vụ 3 năm 3 tháng
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia về hạm đội tàu chiến, ф. р-397, оп. 2, д. 222, л. 287 [Cho tư lệnh hạm đội biển đen thiếu tướng Октябрьский
Cho trưởng phòng tác chiến bộ tham mưu hạm đội biển đen
23 tháng 7 năm 1940 №02/2092
Báo cáo
Theo câu hỏi: sai lầm của chỉ huy hải đội tàu ngầm số 32 thiếu tá Успенский trong vụ đâm va giữa tàu ngầm Щ-208 và Щ-209
Căn cứ vào nghị quyết của ngài trong bản báo cáo của chỉ huy lữ đoàn tàu ngầm số 3, hạm đội biển đen từ ngày 07 tháng 7 theo câu hỏi về sự va chạm của tàu ngầm Щ-208 với tàu ngầm Щ-209 ngày 28 tháng 6 năm 1940
Báo cáo: chỉ huy hải đội tàu ngầm số 32 thiếu tá Успенский có mặt trên tàu ngầm Щ-208. Trong thời điểm va chạm ông ta đã có mặt ở bên dưới. Điều khiển tàu ngầm là thuyền trưởng đại úy Иванов В. И. có mặt trên đài chỉ huy.
Sau cú va chạm chỉ huy hải đội tàu ngầm số 32 đã đi lên đài chỉ huy. Để làm rõ tình hình, tàu ngầm Щ-208 đã tách ra khỏi tàu ngầm Щ-209, sau đó kiểm tra chúng và nhận định rằng hư hỏng không ảnh hưởng đến việc thi hành nhiệm vụ, lệnh cho các tàu ngầm Щ-208 và Щ-209 tiếp tục thực hiện nhiệm vụ
Sai lầm của chỉ huy hải đội tàu ngầm 32 biểu hiện như sau:
Đánh giá không đúng tình trạng của tàu và đã cho quyết định về sự cơ động riêng biệt trên tuyến đo, đã không cho phân chia giới tuyến cơ động và không chỉ phạm vi cụ thể.
Sau khi phát tín hiệu «Добро» cho tàu Щ-209 thì ông ta đã đi xuống, không kiểm tra chắc chắn rằng liệu thuyền trưởng tàu ngầm có triển khai đúng hay không để tự điều khiển tàu di chuyển.
Các hành động sau đó của chỉ huy hải đội tàu ngầm số 32 là đúng, cho phép thi hành nhiệm vụ mà ông ta nhận được. Cả hai tàu ngầm đều thi hành nhiệm vụ tốt, tàu ngầm Щ-208 đã ở trên trận địa 18 ngày đêm
Căn cứ vào mệnh lệnh chỉ đạo của lữ đoàn yêu cầu ngài phê chuẩn giải pháp của chúng tôi đưa Успенский ra tòa án thẩm danh dự
Lữ trưởng lữ tàu ngầm số 3, hạm đội biển đen đại tá А.Фролов
Quân ủy lữ đoàn tàu ngầm số 3 В.Обидин]Theo cơ quan lưu trữ quốc gia về hạm đội tàu chiến, ф. р-397, оп. 2, д. 222 (Báo cáo về tình trạng sự cố của lữ đoàn tàu ngầm số 3, hạm đội biển đen trong tháng 6 năm 1940), л. 322, п. 7 [24 tháng 6 năm 1940, tàu ngầm Щ-208. Sự cố
Khi xác định vận tốc di chuyển trên dặm đo Херсонесский của tàu ngầm Щ-208 và Щ-209, cả hai tàu ngầm chạy song song nhau với phương di chuyển là 1370. Khi thay đổi phương di chuyển quay về phía ngược lại cả hai tàu đã quay vào bên trong và gặp nhau, hệ quả là xảy ra va chạm
Hành động của các thuyền viên. Thuyền trưởng tàu ngầm Щ-209 ra lệnh bẻ lái sang phải, dừng động cơ và cho lùi về sau hết lực. Tàu ngầm Щ-208 tiếp tục quay sang trái, tức là sang phía giao nhau.
Hậu quả: phần mũi của tàu ngầm Щ-209 bị hư hỏng. Trên tàu ngầm Щ-208 két dằn chính số 5 bị hỏng và có 2 vết lõm trên lớp vỏ ngoài
Nguyên nhân tai nạn và người mắc lỗi: do sự điều hành không đúng của cả hai tàu trong điều kiện di chuyển cùng nhau. Thuyền trưởng tàu ngầm Щ-208 đại úy Иванов В. И. – đã vi phạm chương 19 của «các quy tắc phòng tránh va chạm của tàu» và đã không áp dụng các biện pháp kịp thời.
Thuyền trưởng tàu ngầm Щ-209 đại úy Кисилёв И. Н. – đã sai lầm trong việc điều khiển tàu.
Chỉ huy hải đội tàu ngầm số 32 thiếu tá Успенский đã sơ suất trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình trên tàu ngầm Щ-208 làm cho va chạm xảy ra
Hình phạt: đại úy Иванов В. И. và đại úy Кисилёв И. И. bị đưa ra tòa
Chỉ huy hải đội tàu ngầm số 32 thiếu tá Успенский bị khiển trách nghiêm khắc theo mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội biển đen.]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia về hạm đội tàu chiến, ф. р-397, оп. 2, д. 222л. 402 [Theo quyết định của ban chỉ huy lữ đoàn tàu ngầm số 3 hạm đội biển đen thì Chỉ huy hải đội tàu ngầm số 32 thiếu tá Успенский cũng bị khởi tố danh dự.]
25 tháng 6
M-18, thuyền trưởng đại úy (31 tháng 3 năm 1940) Барбитов Константин Викторович, Liên Xô, hạm đội thái bình dương, seria VI. Đưa vào hoạt động ngày 22 tháng 7 năm 1934. Thời gian phục vụ 5 năm 11 tháng.
Ngày 25 tháng 6 trên tàu ngầm M-18 thuộc hải đội tàu ngầm số 23, lữ đoàn tàu ngầm số 2, hạm đội thái bình dương trong thời gian xả của két dằn chính số 3 thì qua van xả không được đóng chặt nước ngoài mạn đã tràn vào hầm của khoang số 1 và qua lỗ thông gió nước đã rơi vào kho chứa thực phẩm, làm úng nước hết một lượng lương thực dự trữ cho 10 ngày.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia về hạm đội tàu chiến, ф. р-1090, оп. 5, д. 76 (Báo cáo về những tai nạn, sự cố, hư hỏng trên các tàu chiến của lữ đoàn tàu ngầm số 2, hạm đội thái bình dương) л. 245 [25 tháng 6 năm 1940 tàu ngầm M-18 trong thời gian hoạt động của máy bơm để xả nước từ két dằn số 3, sau khi xả thì nước của máy bơm tuabin đã rơi vào lương thực trên tàu.
Hậu quả của sự cố : lương thực dự trữ cho 10 ngày bị ướt
Nguyên nhân. Khi xả hầm của khoang số 1 thì van xả đã được mở bởi thuyền viên Синегубовый. Sau khi xả hầm thì Синегубовый đã không đóng và nén chặt van xả, còn đội trưởng đội phóng lôi Иванов đã không kiểm tra theo nhiệm vụ. Khi mở van xả để xả nước trong két dằn số 3 bởi thuyền viên Казанцев thì nước đã qua sống tàu và van xả bị mở của khoang 1 tràn vào trong khoang
Khi mực nước lên đến hốc để lương thực, nơi có đặt động cơ của máy phát thủy âm, nước đã tràn vào lương thực qua lỗ thông gió.
Việc phát hiện nước tràn vào trong khoang chỉ được phát hiện khi nó tràn vào sống tàu lúc máy bơm của hầm hoạt động
Việc xả nước trong hầm và cho máy bơm hầm hoạt động đã được thực hiện mà không có lệnh của chỉ huy tàu và chỉ theo «sáng kiến» của các thuyền viên.
Những người mắc lỗi : thuyền trưởng tàu ngầm đại úy Барбитов và trưởng ngành 5 Попугаев vì đã điều hành công việc không tốt trên tàu và các thuyền viên có chuyên môn thấp.
Đội trưởng đội phóng lôi Иванов, thuyền viên Казанцев và Синегубов đã để nước tràn vào lương thực
Lệnh cho lữ đoàn tàu ngầm số 2, hạm đội thái bình dương phải thi hành kỷ luật đối với các cá nhân sai phạm
Tàu ngầm M-18 phải neo đậu tại căn cứ Улисс trong 3 ngày để khắc phục sự cố. thuyền trưởng tàu ngầm và trưởng ngành 5 phải đền số lương thực bị ướt theo tỷ lệ 50% cho mỗi người.
Tham mưu trưởng lữ đoàn tàu ngầm số 2, hạm đội thái bình dương trung tá Курносов]
25, 26 và 28 tháng 6
M-13, thượng úy (13 tháng 4 năm 1939) Ветчинкин Павел Петрович, Liên Xô, hạm đội thái bình dương, seria VI, đưa vào hoạt động từ 14 tháng 7 năm 1934. Thời gian phục vụ là 5 năm, 11 tháng.
Ngày 25 tháng 6 trên tàu ngầm M-13 – thuộc hải đội tàu ngầm số 23, lữ đòan tàu ngầm số 2, hạm đội thái bình dương, sau hệ quả của sự cố thì những tấm lái đuôi ngang đã bị hỏng trong 10 giờ từ việc ăn mòn kim loại. Sau thời gian phục vụ 6 năm tàu cần được đại tu.
Ngày 26 tháng 6, nắp trên của khoang số 4 trong khu vực trục bánh răng lớn của thiết bị khóa bị vỡ.
Ngày 28 tháng 6, khi thực hiện huấn luyện vượt qua mạng lưới chống ngầm thì tấm lái bên trái của bánh lái mũi ngang do mối hàn yếu tại vị trí hàn tấm lái vào trục đã bị tách khỏi trục và bị quay tự do.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia về hạm đội tàu chiến, ф. р-1090, оп. 5, д. 76 (báo cáo về những tai nạn, sự cố và hư hỏng trên những tàu chiến của lữ đoàn tàu ngầm số 2, hạm đội thái bình dương), л. 245 [ngày 25 tháng 6 năm 1940 tàu ngầm M-13.
Những bánh lái đuôi ngang bị hư hỏng vì sự ăn mòn của thanh kéo trong khu vực của ống lót đồng và sự rơi thanh kéo khỏi chốt của đai ốc hành trình.
Với sự giúp đỡ của thợ lặn thì thanh kéo và ống lót đã được lắp lại
Từ hệ quả của sự cố, bánh lái đuôi ngang bị hỏng trong 10 giờ. Nguyên nhân sự cố : ăn mòn kim loại, tàu ngầm cần được đại tu. Cần phải kiểm tra cẩn thận tình trạng của thanh kéo.]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia về hạm đội tàu chiến, ф. р-1090, оп. 5, д. 76, л. 246 [ngày 26 tháng 6 năm 1940. Tàu ngầm M-13.
Nắp trên của khoang số 4 trong khu vực trục bánh răng lớn của thiết bị khóa bị nứt. Chiều dài của vết nứt là gần 150mm.
Các thuyền viên đã đặt miếng vá ở trên và dưới bằng thép số 3 với độ dày là 4mm trên lớp lót cao su và các bulông xiết. Nắp được thử nghiệm ở độ sâu 27m. Miếng vá không bị thấm nước.
Nguyên nhân hư hỏng là sự xuất hiện vết nứt là do sự vượt áp lực cục bộ của kim loại.]
26 tháng 6
M-14, thượng úy (10 tháng 3 năm 1939) Гидульянов Владимир Иванович , Liên Xô, hạn đội thái bình dương, seria VI. Đưa vào hoạt động từ ngày 10 tháng 7 năm 1934. Thời gian phục vụ 5 năm 11 tháng.
Ngày 26 tháng 6 ở căn cứ khi thực hiện quay các hệ thống máy trên tàu ngầm M-14 – thuộc hải đội tàu ngầm số 23, lữ đoàn tàu ngầm số 2, hạm đội thái bình dương đã nhận định thấy việc hoạt động không bình thường của bánh lái thẳng đứng và bánh lái đuôi ngang. Ngày 02 tháng 7 thì tàu đã được đưa lên đà.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia về hạm đội tàu chiến, ф. р-1090, оп. 5, д. 76 (Báo cáo về tai nạn, sự cố và hư hỏng trên các tàu chiến của lữ đoàn tàu ngầm số 2, hạm đội thái bình dương), л. 246 [ngày 26 tháng 6 năm 1940 tàu ngầm M-14.
Bánh lái thẳng đứng trên hành trình chỉ được đặt góc 100 khi tải dòng điện là 50A. Hiện tượng này đã được quan sát thấy trước đó nhưng với tải nhỏ hơn. Các thuyền viên đã kiểm tra tất cả các chi tiết của kết cấu bánh lái thẳng đứng theo các cụm.
Hệ quả của sự cố. Tàu ngầm với bánh lái như vậy đã không thể di chuyển bình thường, từ ngày 2 tháng 7 tàu được đưa lên đà. Số tiền thiệt hại là 2000-3000 rúp.
Nguyên nhân sự cố : ổ bi chặn bị ăn mòn hoàn toàn và phần bảo vệ của bánh lái thẳng đứng bị yếu do sự ăn mòn của bộ phận truyền động Девна. Tàu ngầm cần được đại tu. Theo chỉ thị này thì khi tàu lên đốc cần thay thế ổ chặn]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia về hạm đội tàu chiến, ф. р-1090, оп. 5, д. 76, л. 247 [26 tháng 6 năm 1940 tàu ngầm M-14.
Những bánh lái đuôi ngang được đặt ở góc 200 khi lặn và 100 khi nổi. Các thợ lặn đã kiểm tra phần bảo vệ của bánh lái đuôi ngang và kết luận rằng không thể khắc phục các sự cố mà không cần đưa tàu lên đà.
Từ hệ quả của sự cố thì các bánh lái ngang đã không hoạt động bình thường. Số tiền thiệt hại là 500-1000 rúp.
Nguyên nhân hư hỏng : sự xê dịch tay lái của bánh lái đuôi ngang sang mạn trái do sự ăn mòn các bulông nối và tạo ra ma sát lớn]
28 tháng 6 tàu ngầm M-16 và M-20
M-16, thượng úy Калмыков Алексей Трофимович 9được bổ nhiệm theo quyết định của quân ủy hải quân ngày 02 tháng 1 – 21 tháng 11 năm 1940), Liên Xô, hạm đội thái bình dương, seria VI. Đưa vào hoạt động từ 22 tháng 7 năm 1934. Thời gian phục vụ 5 năm 11 tháng.
M-20, thượng úy (15 tháng 3 năm 1938) Скобликов Николай Игнатьевич (được bổ nhiệm theo mệnh lệnh của quân ủy hải quân ngày 02 tháng 1 năm 1940 – 27 tháng 10 năm 1940), Liên Xô, hạm đội thái bình dương. Đưa vòa hoạt động ngày 23 tháng 9 năm 1934. Thời gian phục vụ 5 năm 9 tháng.
Ngày 28 tháng 6 tại căn cứ Улисс tàu ngầm M-20 – thuộc hải đội tàu ngầm số 24, lữ đoàn tàu ngầm số 2, hạm đội thái bình dương, tại vị trí neo đậu ở cảng số 8 đã thực hiện căn chỉnh động cơ diesel và thử nghiệm làm nóng ổ trục Митчеля. Tàu ngầm M-16 - thuộc hải đội tàu ngầm số 23, lữ đoàn tàu ngầm số 2, hạm đội thái bình dương cũng đi đến cảng này, do quán tính nhỏ nên đã đâm tấm lái bên trái của bánh lái mũi ngang vào chân vịt của tàu ngầm M-20
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia về hạm đội tàu chiến, ф. р-918, оп. 1, д. 110 (Bản báo cáo về những tai nạn, sự cố và hư hỏng trên những tàu chiến của lữ đoàn tàu ngầm số 2, hạm đội thái bình dương), л. 294 [ngày 05 tháng 07 năm 1940 thành phố Владивосток
28 tháng 6 năm 1940 tàu ngầm M-16 và M-20 (đã thực hiện thử nghiệm neo đậu)
Tàu ngầm M-20 ở căn cứ Улисс khi neo đậu ở cảng số 8 đã thực hiện hiệu chỉnh động cơ diesel và thử nghiệm làm nóng ổ trục Митчеля. Động cơ diesel hoạt động trên chân vịt với vận tốc 420 vòng/phút. Tàu ngầm M-16 cũng đi đến cảng số 8 do quán tính nhỏ nên đã đâm tấm lái bên trái của bánh lái mũi ngang vào chân vịt của tàu ngầm M-20. Hệ quả là vận tốc quay của động cơ diesel bị giảm đột ngột và sau đó lại bắt đầu tăng lên. Các thuyền viên trên tàu ngầm M-20 đã cho động cơ diesel dừng lại ngay lập tức theo tình trạng khẩn cấp, tàu ngầm M-20 bị hỏng trong 2 ngày.
Nguyên nhân sự cố là việc chỉ huy không cẩn thận của thuyền trưởng tàu ngầm M-16 – thượng úy Колмыков khi neo đậu vào bên mạn phải của tàu ngầm M-20 trên quán tính nhỏ trong dòng xoay của chân vịt tàu ngầm M-20 - tạo ra dòng chảy đẩy nhanh mũi tàu ngầm M-16 vào đuôi của tàu ngầm M-20.
Tàu ngầm M-16 và M-20 đã được đưa lên đà để khắc phục hư hỏng. Vì cú va đập mà trên tàu ngầm M-16 bị cong trục tấm lái bên trái và bị rách lớp vỏ của két dằn số 3. Trên tàu ngầm M-20 hai cánh quạt bị cong, ở cánh quạt thứ 3 bị gãy. Bộ hãm mayơ của khớp cam bị giật lùi. Người mắc lỗi trong sự cố là thuyền trưởng tàu ngầm M-16.
Tàu ngầm M-16 không phải ngừng hoạt động sau tai nạn. Việc khắc phục hư hỏng mất 12 tiếng với số tiền là 2000 rúp. Tàu ngầm M-20 bị hỏng trong 12 ngày với số tiền thiệt hại là 1500-2000 rúp.
Thợ lặn đã kiểm tra thân vỏ và chân vịt tàu ngầm M-20. Mệnh lệnh của lữ trưởng lữ tàu ngầm số 2, hạm đội thái bình dương nghiêm cấm việc neo đậu tàu mà chân vịt vẫn hoạt động]
Tháng 6 –tháng 7
U-122, đại úy Лооф (von Looff), Đức, seria IXB, 1051/1178 tấn, lượng dự trữ nổi 10%, kíp tàu biên chế 48 người (4 sỹ quan, 44 hạ sỹ quan và thủy thủ). Đưa vào hoạt động ngày 30 tháng 3 năm 1940. Thời gian phục vụ gần 3 năm, trên tàu có 49 người.

Bố trí chung của tàu ngầm U-122
Trên hành trình theo kênh Английский đến vịnh Бискайский tàu ngầm U-122 đã bị chìm cùng toàn bộ kíp tàu mà không rõ nguyên do. Vị trí và thời gian thảm họa đã không được xác định. Theo tài liệu khác ngày 22 tháng 6 năm 1940, tàu bị chìm ở khu vực các đảo của Силль (Anh quốc) tại điểm có tọa độ 50°47' E / 08°48' SW từ hậu quả của cú va chạm với tàu Mỹ San Felipe. Trong thảm họa có 49 người chết.
Tháng 6 – tháng 8
U-102, đại úy фон Клот-Нейденфельд (von Klot-Neydanfeldt), Đức, seria VIIB, 753/857 tấn, lượng dự trữ nổi 13%, kíp tàu biên chế 44 người (4 sỹ quan, 40 hạ sỹ quan và thuyền viên). Đưa vào hoạt động ngày 27 tháng 4 năm 1940. Thời gian phục vụ gần 2 tháng. Trên tàu có 43 người.
Trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 8 trên vịnh Бискайский tàu ngầm U-102 đã bị chìm cung toàn bộ kíp tàu mà không rõ nguyên do. Vị trí và trời gian thảm họa đã không được xác định. Trong thảm họa có 43 người chết.
03 tháng 07
M-59 (từ 15 tháng 11 năm 1939 đến 13 tháng 1 năm 1940 được tính trong biên chế của hạm đội biển đen và mang tên tàu ngầm M-56), đại úy (11 tháng 11 năm 1939) Казак Василий Иванович (được bổ nhiệm theo mệnh lệnh quân ủy hải quân ngày 29 tháng 3 năm 1939 – 09 tháng 9 năm 1940), thuyền trưởng tạm thời trong chuyến đi biển ngày 03 tháng 7 năm 1940 là đại úy (24 tháng 7 năm 1937) Буль Станислав Петрович, Liên Xô, hạm đội biển đen, seria XII, đưa vào hoạt động ngày 20 tháng 6 năm 1940. Thời gian phục vụ 13 ngày.
Ngày 03 tháng 7 trên biển đen tàu ngầm M-59 thuộc hải đội tàu ngầm số 22, lữ đoàn tàu ngầm số 2, hạm đội biển đen khi đang trong hành trình ở độ sâu 14m thì phần đuôi tàu đã bị chạm đáy. Hệ quả là bánh lái thẳng đứng và tấm lái của bánh lái đuôi ngang bị hư hỏng
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia về hạm đội tàu chiến, ф. р-397, оп. 2, д. 222, л. 298 [03 tháng 8 năm 1940 №120 thành phố Севастополь
Cho hội đồng quân sự hạm đội biển đen, cho trưởng phòng kỹ thuật hạm đội biển đen. Kèm theo biên bản về hư hỏng ngày 03 tháng 7 năm 1940 của bánh lái thẳng đứng và tấm lái trên tàu ngầm M-59 - hải đội tàu ngầm số 22, lữ đoàn tàu ngầm số 2, hạm đội biển đen
Chỉ huy hải đội số 22 đại úy Д.Ларичев
Quân ủy hải đội số 22 chính ủy trung đoàn Саливон]
л. 299 [ phòng số 2 của bộ tham mưu hạm đội biển đen 08 tháng 8 năm 1940 №02/2309
Biên Bản
Hội đồng đã xác định rằng việc di chuyển của tàu ngầm M-59 trong độ sâu 14m ngày 03 tháng 7 năm 1940 với việc hoạt động của động cơ điện chính cho tàu tiến về trước thì phần đuôi tàu bị va đập.
Kỹ sư cơ khí lữ đoàn tàu ngầm số 2, hạm đội thái bình dương Селихов
Thuyền trưởng tàu ngầm M-59 đại úy Буль
Trưởng ngành 5 tàu ngầm M-59 Буковшин]
04 tháng 7 tàu ngầm M-26 và Щ-117
M-26, thượng úy (03 tháng 11 năm 1939) Кольцов Михаил Иванович (được bổ nhiệm bởi mệnh lệnh của quân ủy hải quân ngày 29 tháng 10, theo tài liệu khác là ngày 07 tháng 12 năm 1939, - 21 tháng 11 năm 1940), Liên Xô, hạm đội thái bình dương, seria VI. Đưa vào hoạt động từ 05 tháng 12 năm 1934. Thời gian phục vụ là 5 năm 7 tháng.
Щ-117 Макрель (đến trước ngày 18 tháng 11 năm 1934 là tàu Макрель), đại úy (28 tháng 11 năm 1938) Шатов Андрей Павлович (được thi hành chức vụ ngày 20 tháng 10 năm 1939, được phê chuẩn ngày 03 tháng 3 năm 1940 – 20 tháng 11 năm 1940), chính trị viên Пьянов Константин Иванович, Liên Xô, hạm đội thái bình dương, seria V-бис, đưa vào hoạt động ngày 18 tháng 11 năm 1934. Thời gian phục vụ 5 năm 7 tháng.
[Mệnh lệnh của lữ trưởng lữ tàu ngầm số 5, hạm đội thái bình dương, đại tá Чурсин
14 tháng 7 năm 1940 № 0126
04 tháng 7 năm 1940 khi quay về từ thao trường thì tàu ngầm M-26 (hải đội tàu ngầm số 25, lữ đoàn tàu ngầm số 2, hạm đội thái bình dương) trong quá trình neo đậu tại cảng đã va vào bến, và đâm vào tàu ngầm Щ-117 Макрель, hải đội tàu ngầm số 31, lữ đoàn tàu ngầm số 1, hạm đội thái bình dương), bánh lái thẳng đứng bị cong.
Lữ trưởng lữ đoàn tàu ngầm số 5, hạm đội thái bình dương đại tá Чурсин
Quân ủy lữ đoàn tàu ngầm số 5, hạm đội thái bình dương - chính ủy trung đoàn Межевич]
Ngày 9 tháng 7 hoặc sau đó
Сэмон (S-65 Salmon), loại Sealion, thuyền trưởng thượng úy Бикфорд (Bickford E.O.), Anh quốc, 765/960 tấn, lượng dự trữ nổi 24%, kíp tàu biên chế 36 người. Đưa vào hoạt động từ 8 tháng 3 năm 1934. Thời gian phục vụ 5 năm 3 tháng.
Trên biển Nauy, Trên hành trình hướng tây-nam về bờ biển Nauy thì tàu ngầm Сэмон đã bị chìm cùng toàn bộ kíp tàu mà không rõ nguyên nhân, giả định rằng, ngày 09 tháng 7 tàu đã bị nổ do mìn trên biển Bắc trên hành trình đến Ставангер (Nauy). Vị trí và thời gian thảm họa đã không được xác định. Trong thảm họa có 36 người chết.
12 tháng 7
Щ-101 ЛОСОСЬ (đến trước ngày 07 tháng 12 năm 1933 là tàu ngầm № 11 Карась, đến trước ngày 15 tháng 9 năm 1934 là tàu ngầm № 11 Ласось) đại úy (31 tháng 8 năm 1940) Мельник Яков Карпович (được thi hành nhiệm vụ từ ngày 15 tháng 12 năm 1938, được phê chuẩn ngày 09 tháng 12 năm 1939 – 21 tháng 11 năm 1940), ủy viên, chính trị viên Суханов Павел Петрович (thi hành nhiệm vụ từ ngày 04 tháng 11 năm 1939, được phê chuẩn ngày 31 tháng 05 năm 1940 – 1941), Liên Xô, hạm đội thái bình dương, seria V, Được đưa vào hoạt động ngày 23 tháng 9 năm 1933. Thời gian phục vụ gần 7 năm.
Ngày 12 tháng 7 ở vịnh Золотой Рог, thành phố Владивосток thì xuồng Люнет của nhà máy № 202 đã đâm sống mũi tàu vào phía đuôi bên mạn phải ở khu vực sườn tàu số 79 của tầm ngầm Щ-101 Лосось thuộc hải đội tàu ngầm số 11, lữ đoàn tàu ngầm số 1, hạm đội thái bình dương khi mà xuồng rời khỏi bến số 1 để thay đổi vị trí trú đậu, gây ra hư hỏng nghiêm trọng cho lớp vỏ và bộ khung của lớp vỏ nhẹ tàu ngầm, đồng thời làm hư hỏng thiết bị của bánh lái đuôi ngang.
Theo cơ quan lưu trữ liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, оп. 5, д. 76, л. 288 [bản báo cáo bất thường về tai nạn của tàu ngầm Щ-101 lữ đoàn tàu ngầm số 1 hạm đội thái bình dương.
Loại sự cố: va chạm sống mũi của xuồng vào đuôi bên mạn phải của tàu ngầm Щ-101
Thời gian: 17.35 ngày 12 tháng 7 năm 1940
Vị trí: vịnh «Золотой Рог», ở bến số 1.
Các hành động của các tàu: rời khỏi bến số 1 để thay đổi vị trí
Bản miêu tả tóm tắt về tai nạn: vào lúc 17.25 nhận được sự cho phép đi ra khỏi bến để thay đổi vị trí, đã ra lệnh: «đứng tại vị trí, tháo neo». Xuồng đã đậu phía mạn trái vào bến số 1. Gió thổi về phía bến. Vào lúc 17.31 bắt đầu cho xuồng giật lùi lại. Vào lúc 17.34 khi mà xuồng đã lùi ra sau một nửa chiều dài tàu ngầm Щ-120 thì tín hiệu viên và trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm báo cáo:« có xuồng đi bên phải» , khoảng cách gần 300m cách tàu ngầm. Những động cơ motor đã được dừng lại khi nó trong thời điểm đó đang hoạt động cho xuồng lùi lại, và phát 3 tiếng còi ngắn, sau đó tín hiệu này lặp lại 2 lần. Xuồng có quán tính lui về sau không đáng kể và dưới sự tác động của gió thì đuôi xuồng đã trôi sang trái, đè mũi xuồng vào mạn trái của tàu ngầm Щ-120. Vào lúc 17.34.40 xuồng đã phát 3 tiếng còi ngắn, nhưng vẫn tiếp tục có chuyển động và đi theo hướng thẳng. Khoảng cách từ xuồng đến đuôi tàu là gần 30-40m. Vào lúc 17.35 xuồng «Люнет» №3932 chỉ huy là thuyền trưởng Типов đã đâm mũi xuồng vào mạn phải trong khu vực sườn tàu số 79 ngay giữa két dằn chính số 6 và chỉ sau va chạm mới bắt đầu cho lùi lại. Tàu ngầm lắc sang mạn trái 150. Trước cú va chạm tàu đã phát báo động sự cố. Trên cột buồm mũi bên phải đã bật tín hiệu «Земля» ngay từ đầu.
Hư hỏng: Vết lõm trên mạn trái lớp vỏ, trong khu vực sườn tàu số 79, phía trên đường mớn nước một độ cao 1100mm, chiều rộng là 650mm, độ sâu trung bình của vết lõm là 95mm. Làm vỡ 3 đinh tán, hỏng 2 sường tàu. Trong khu vực bị lõm thì dãy đinh tán đã làm thoát khí. Các mối hàn tấm vỏ tàu theo chiều thẳng đứng trong khu vực từ sườn tàu số 79 đến 80 bị bong. Vị trí và mức độ hư hỏng đã không được xác định
Nguyên nhân sự cố: thuyên trưởng của xuồng – Типов đã không biết điều khiển xuồng và không biết «quy tắc phòng tránh va chạm tàu». Theo lời của thyền trưởng Типов, tại sao không quay sang trái, ông ta đã giải thích rằng đã lung túng và không đoán được phải quay sang trái. Còn cho câu hỏi, «tại sao không cho xuồng lùi lại», ông ta đã trả lời rằng đã cho ba lần lùi về sau hết lực, nhưng mệnh lệnh đã không được thực hiện trong khoang máy.
Người mắc lỗi trong sự cố là thuyền trưởng xuồng «Люнет» № 3932 – Типов
Thuyền trưởng tàu ngầm Щ-101 đại úy Мамкин]
14 tháng 7
Щ-124 Палтус ( đến trước 15 tháng 9 năm 1934 Палтус) thượng úy (27 tháng 8 năm 1937) Гусаров Дмитрий Фёдорович (được phép thi hành chức vụ ngày 16 tháng 7 năm 1939, được phê chuẩn ngày 01 tháng 6 năm 1940 – 1941), chính trị viên Пономаренко Иван Евдокимович (được phép thi hành chức vụ vào đầu năm 1940, được phê chuẩn ngày 14 tháng 4 năm 1940 - ), Liên Xô, hạm đội thái bình dương, seria V-бис-2. Được đưa vào hoạt động từ ngày 29 tháng 9 năm 1935. Thời gian phục vụ 4 năm 10 tháng.
Ngày 14 tháng 7 trên tàu ngầm Щ-124 Палтус thuộc hải đội tàu ngầm 32, lữ đoàn tàu ngầm số 3, hạm đội thái bình dương đã xảy ra sự cố với động cơ diesel.
20 tháng 7
K-2, đại úy (17 tháng 12 năm 1938) Уткин Василий Прокофьевич (được bổ nhiệm bởi mệnh lệnh của quân ủy hải quân ngày 21 tháng 7 năm 1938 – 04 tháng 7 năm 1941), Liên Xô, hạm đội Bắc, seria XIV. Biên chế trong đội hình từ ngày 26 tháng 5 năm 1940. Thời gian phục vụ 2 tháng
Ngày 20 tháng 7 tàu khu trục Либкнехт đã hộ tống tàu ngầm K-2 của hải đội tàu ngầm số 1, lữ đoàn tàu ngầm, hạm đội Bắc từ Сороки đến Полярное, trong khu vực các đảo Семи, vì thay đổi vị trí của mình trong lệnh hành quân bởi từ khả năng các tàu chiến có thể sẽ đi vào vùng sương mù nên đã va chạm với tàu ngầm K-2
Theo cơ quan lưu trữ liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф.р-970, оп.2, д.171(những mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc ngày 01 tháng 1 – 31 tháng 12 năm 1940) trang 198, 199 [mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc. Nôi dung: về sự va chạm của tàu khu trục Либкнехт với tàu ngầm K-2
01 tháng 8 năm 1940 №0268 thành phố Полярное
Ngày 20 tháng 7 vào lúc 18.28 tàu khu trục Либкнехт hộ tống tàu ngầm K-2 từ Сороки đến khu vực Семи Островов, vì sự thay đổi vị trí của mình trong lệnh hành quân nên đã đâm vào tàu ngầm K-2, gây ra hư hỏng trên thân vỏ tàu mình và trên tàu ngầm K-2.
Vào lúc 18.20 khi trên đường hành quân trên góc phương vị thực 3560 và trên góc hướng 480 mạn phải có tàu ngầm K-2 ở khoảng cách 8,3cabentôp (gần 1550m), khoảng cách phương ngang là 6,2 cabentôp (gần 1150m), tàu khu trục có vận tốc là 19 hải lý và đi theo hàng hướng thực tế 3080 , thuyền trưởng tàu khu trục Либкнехт thiếu tá Нагорный đã bất ngờ đưa tàu vào sương mù, ông ta đã hỏi lữ trưởng tàu ngầm khi đó có mặt trên tàu ngầm K-2 :«chúng ta sẽ đi hay phải thay đổi hướng đi trong sương mù»
Thuyền trưởng tàu khu trục đã không đợi câu trả lời và không báo cáo về ý định của mình cho chỉ huy hải đội số 2 - thiếu tá Симонов đang có mặt trong cabin, vào lúc 18.24 ông ta đã ra lệnh cho chỉ huy phiên gác thượng úy Исаенко vạch tọa độ bên trái 900 theo hướng tàu ngầm K-2 với mục đích là giảm khoảng cách giữa các tàu đến 2-3 cabentôp.
Vào lúc 18.25 bánh lái đã quay sang trái 150 và tàu bắt đầu chuyển hướng, tàu nhanh chóng tiến lại gần tàu ngầm K-2. Thuyền trưởng đã có mặt ở cánh phải của cabin và đã không quan sát thấy sự tiến lại gần tàu ngầm.
Vào lúc 18.27 khi nhìn thấy sự va chạm không thể tránh khỏi, ủy viên quân sự tàu khu trục, chính trị viên Савенко đã truyền lệnh cho bánh lái «sang phải», sau đó 20 -30 giây,thấy rằng mũi tàu đã di chuyển sang phải và tàu khu trục có thể đâm vào đuôi tàu ngầm, ông ta đã lệnh cho bánh lái «sang trái» đồng thời thuyền trưởng cho lùi về sau hết tốc lực. sự trượt dọc của cú va chạm phần đuôi mạn trái tàu khu trục với phần đuôi mạn phải tàu ngầm K-2 đã gây ra hậu quả trong lớp thân vỏ nhẹ của tàu ngầm K-2 có một vài vết lõm bên mạn phải cũng như nhiều vết lõm trên thân tàu khu trục bên mạn trái.
Vì sự vi phạm các điều mục trong điều lệ tàu chiến( ч. 1-ст. 337, 344, 345 и ПСП ст.52) trong phần đảm bảo di chuyển của tàu chiến trên biển, vì đã không điều hành cẩn trọng dẫn đến tai nạn và va chạm tàu khu trục với tàu ngầm K-2, thuyền trưởng tàu khu trục thiếu tá Нагорный cần phải đưa ra tòa án quân sự, nhưng vì tính đến sự phục vụ rất tốt của ông ta, có trình độ chuẩn bị tác chiến cao và tàu dưới sự chỉ huy của ông ta đã không có tai nạn nào cho đến trước trường hợp này, Lệnh: tước đoạt đối với thiếu tá Нагорный quyền được điều khiển tàu tự động và khởi tố danh dự.
Vì sự tổ chức di chuyển không được cân nhắc kỹ và những chỉ dẫn không đầy đủ cho thuyền trưởng tàu khu trục khi di chuyển mà lữ trưởng lữ tàu ngầm trung tá Павлуцкий bị khiển trách nghiêm khắc.
Vì sự kiểm tra không đầy đủ hành động của thuyền trưởng tàu khu trục trong tình hình phức tạp khi mà ông ta chỉ mới vừa được sự cho phép điều khiển tàu tự động không lâu, chỉ huy hải đội số 2 - thiếu tá Симонов bị khiển trách
Tư lệnh hạm đội Bắc thiếu tướng Дрозд
Thành viên hội đồng quân sự hạm đội Bắc chính ủy hải đội Смирнов
Tham mưu trưởng hạm đội Bắc đại tá Голубев]
21 tháng 7
М-14, thuyền trưởng thượng úy (10 tháng 3 năm 1939) Гидульянов Владимир Иванович , Liên Xô, hạm đội thái bình dương, seria 6, đưa vào đội hình từ 10 tháng 7 năm 1934, thời gian phục vụ 6 năm.
Ngày 21 tháng 7 khi làm nhiệm vụ tuần tiễu ở vịnh Пётр Великий trong trạng thái lặn dưới nước thì trên tàu ngầm M-14 – hải đội tàu ngầm thứ 23 của lữ đoàn tàu ngầm thuộc hạm đội thái bình dương đã xuất hiện và tăng dần sự nghiêng dọc về phía đuôi tàu và tàu mất tính nổi. Sau khi nổi lên thì phát hiện ra nước biển đã tràn vào két cân bằng dọc ở đuôi tàu thông qua lỗ rò ống xả của két dằn chính số 3. Và mặc dù thực tế, ngày 2 tháng 7 tàu đã được kéo lên triền đà để khắc phục sự hoạt động không tốt của bánh lái thẳng đứng và bánh lái ngang đuôi tàu (được phát hiện vào ngày 26 tháng 6 ở căn cứ khi quay các hệ thống cơ của tàu).
Như vậy, trải qua 6 năm phục vụ đã xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của sự ăn mòn ống dẫn và hình thành lỗ rò ở tàu ngầm.
Cơ quan lưu trữ liên bang Nga của hạm đội tàu chiến (Báo cáo về tai nạn, biến cố và hư hỏng trên những tàu ngầm - đội tàu ngầm số 2) [ 21 tháng 7 năm 1940. Tàu ngầm M-14 khi làm nhiệm vụ tuần tiễu ở vịnh Пётр Великий đã tăng dần sự nghiêng dọc về phía mũi cùng sự xuất hiện mất tính nối. Khi mở két cân bằng dọc ở đuôi tàu đã phát hiện vết gỉ của ống xả két dằn chính số 3 bên trái mạn thuyền và nước chảy vào két cân bằng dọc ở đuôi tàu.
Sau khi tàu nổi lên, đã tiến hành hút nước ở két cân bằng dọc đuôi tàu. Chỗ bị gỉ sét với tiết diện 1cm2 đã được bịt kín bằng vành đai.
Từ hậu quả của tai nạn, tàu ngầm đã không thể lặn trong thời gian 2 tiếng.
Nguyên nhân của tai nạn. Xuất phát từ việc khai thác lâu dài dẫn đến bị gỉ sét. Chỉ huy đơn vị chiến đấu có chỉ thị phải kiểm tra định kỳ].
23 Tháng 7
M-60 (từ ngày 15 tháng 11 năm 1939 đến 13 tháng 1 năm 1940 được tính trong đội hình của hạm đội biển đen là tàu mang tên M-57), thuyền trưởng trung úy Кудрявцев Борис Васильевич, Liên Xô, hạm đội biển đen, seria XII. Được đưa vào hoạt động ngày 20 tháng 6 năm 1940. Thời gian phục vụ 1 tháng.
Ngày 23 tháng 7 khi thực hiện việc chuẩn bị tác chiến ở thao trường số 6 trên hành trình đến căn cứ Главный tàu ngầm M-60 thuộc hải đội tàu ngầm số 22, lữ đoàn tàu ngầm số 2, hạm đội biển đen đã bị mất neo ở độ sâu 65m.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia về hạm đội tàu chiến, ф. р-397, оп. 2, д. 222, л. 280
[26 tháng 7 năm 1940 №1009 thành phố Севастополь
Cho hội đồng quân sự hạm đội biển đen. Về việc mất neo của tàu ngầm M-60(hải đội tàu ngầm 22, hạm đội biển đen).
Báo cáo, ngày 23 tháng 7 năm 1940 tàu ngầm M-60 khi thực hiện chuẩn bị tác chiến trên khu vực số 6 đã bị mất neo ở độ sâu 65m. Người mắc lỗi đẫn đến mất neo là từ phía nhà máy № 112.
Lữ trưởng lữ tàu ngầm số 2, hạm đội biển đentrung tá Соловьёв
Quân ủy lữ tàu ngầm số 2, hạm đội biển đen Аушев]
23 Tháng 7 và sau đó.
Темза (F-71 Thames), Anh quốc, 2165/2680 tấn, sức nổi dự trữ 22%. Kíp tàu 61 người. Biên chế trong đội hình ngày 14 tháng 9 năm 1932. Thời gian phục vụ gần 8 năm.
Trong địa phận biển Nauy, trên đường vào bờ biển Nauy tàu ngầm Темза đã chìm cùng với tất cả kíp tàu mà không rõ nguyên nhân. Giả định rằng, ngày 03 tháng 8 tàu bị nổ do mìn ở bờ biển phía bắc Nauy. Vị trí và thời gian tai nạn không được xác định. Đã có 61 người chết trong thảm họa.
24 Tháng 7
Tàu ngầm A-4 Политработник (từ ngày 15 tháng 9 năm 1934, trước đó : từ 21 tháng 8 năm 1917 là tàu АГ-26, từ ngày 23 tháng 10 năm 1920 là tàu АГ-26 им. тов. Каменева, từ ngày 01 tháng 10 năm 1921 là tàu ПЛ-19, từ ngày 04 tháng 5 năm 1923 là tàu Политработник № 15), thượng úy Касаткин Александр Петр, đưa vào hoạt dộng từ ngày 11 tháng 7 năm 1923. Thời gian phục vụ 17 năm.
Tai nạn ngày 24 tháng 7 năm 1940, tại cảng Poti vì nạp điện cho ắc quy từ nguồn điện trên bờ.
Lực điện từ đã dịch chuyển trục trung gian về phía đuôi tàu. Vành chặn ổ trục của động cơ điện đã bị bào mòn. Khe hở bị giảm tại những vị trí nối của khớp cam tạo ra ma sát giữa trục trung gian với vành chặn và sau đó gây ra sự bám dính giữa chúng với nhau. Đường trục đã bị hỏng trong 3 ngày. Sau khi thực hiện các biện pháp khắc phục thì đã sửa chữa được.
Nguyên nhân hỏng hóc: Khe hở bị giảm tại những vị trí nối của khớp cam – tạo ra ma sát giữa trục trung gian và vành chặn gây ra sự bám dính giữa chúng với nhau.
Hỏng hóc đã xay ra từ hệ quả của sự bào mòn phần kim loại (vành chặn ổ trục động cơ điện bị bào mòn).
Thuyền trưởng tàu ngầm A-4 : thượng úy Касаткин.
Chính trị viên tàu ngầm A-4 : Мамунов.
25 Tháng 7
Kiểu tai nạn: mắc vào lưới đánh cá.
25 tháng 7 năm 1940 vào lúc 18.01 ở khu vực chuẩn bị tác chiến số 2, vịnh Уссурийский tại điểm có tọa độ 43007’N, 132003’E.
Tàu ngầm M-5 thực hiện xác định vận tốc lặn. Vào lúc 16.25 tàu ở vị trí tuyến định hướng chính của dặm đo chuẩn và di chuyển theo hướng 2150 về khu vực tuyến định hướng thứ 3 của dặm đo chuẩn, vì sương mù che lấp khu vực tuyến định hướng, các mốc định hướng không được nhìn thấy. Sau đó tàu tiến đến bờ ở độ sâu 18m, khoảng cách đến bờ 6 cabentôp (gần 1000m). Vào lúc 16.30 cho tàu bước di chuyển nhỏ nhất 200 vòng/phút và theo hướng 3050 để tiến lại gần bờ. Vào lúc 16.45 tàu đi ra ngoài khoảng cách 6 cabentôp di chuyển theo hướng 2150 song song với tuyến định hướng chính và tiếp tục di chuyển với bước di chuyển nhỏ nhất, tiến hành quan sát tuyến định hướng và phương ngang. Vào lúc 16.55 đã nhận thấy mốc định hướng dưới của cát tuyến định hướng № 4 và cho bước di chuyển nhỏ nhất (220 vòng/phút). Mốc định hướng thứ hai đã không được nhìn thấy vì sương mù và đã di chuyển theo phương tuyến định hướng № 3. Mốc định hướng dưới của tuyến định hướng № 3 được nhìn thấy, nhưng vì sương mù nên mốc định hướng trên của tuyến định hướng № 3 lại không được nhìn thấy. Tàu quyết định được nổi lên và quan sát vào ống nhòm. Đến 17.09 thì tàu đã nổi lên đến mặt nước, qua ống nhòm với 8 lần phóng đại đã nhìn thấy mốc định hướng trên của tuyến định hướng № 3 nhưng qua kính tiềm vọng thì không quan sát được. Quyết định di chuyển tàu theo hướng mốc định hướng thứ 2, được đặt ở chỗ trũng và dễ nhận thấy và xác định vận tốc lặn giữa mốc định hướng thứ nhất và thứ hai. Vào lúc 17.18 cọ sát đầu trên kính tiềm vọng bằng ancol, lặn xuống 6m và tiếp tục di chuyển theo hướng 2150 không ngừng quan sát phương ngang và tuyến định hướng. Cả hai tuyến định hướng đều được nhận thấy rõ ràng. Vào 17.45 tiếp tục quan sát phương ngang. Ở chỗ trũng gần bờ của tuyến định hướng thứ 2 đã nhìn thấy một motor «kawasaki».
Vào lúc 17.55 tôi đã gọi hoa tiêu đến chỗ mình, người mà đã quan sát trong kính tiềm vọng tuyến định hướng và phương ngang theo lệnh của tôi và sau đó anh ta đã ngồi cạnh tôi để ghi chép.
Tôi đã đứng quan sát kính tiềm vọng vì tàu đã tiến đến gần tuyến định hướng. Vào lúc 18.00 trên góc phương vị 830 bên mạn phải ở khoảng cách 4 - 4,5 cabentôp (740-840m) đã nhận thấy một vài cái neo nổi. Nhận định rằng ở đây có lưới và muốn quay kính tiềm vọng thẳng về phía mũi tàu nhưng nó không quay được. Cùng lúc đó vào lúc 18.01 thì trên tàu ngầm đã nhận thấy có va đập nhẹ. Chỉ huy lệnh «Tắt động cơ! Lùi về sau hết cỡ!». Sau khi mở nắp tàu ngầm thì đã phát hiện:
Có những miếng ván quấn trên dây chão gai thay vì phao, một phần lưới nằm ở ăng ten đuôi và trên đuôi tàu.
Cách 30m bên phải theo hướng vuông góc với thân tàu những phao nổi bơi trong trạng thái nửa bị ngập chìm.
Lưới bị quấn rối khỏang 1m.
Những chỗ mỏng của kính tiềm vọng bị uốn cong khỏang 50 về phía đuôi và cột của kính tiềm vọng trên đài chỉ huy bị rạn nứt 3/4 chu vi.
Kính tiềm vọng bị kẹt ở vị trí nâng lên.
Dây chão gai quấn vào chân vịt
Sau 20 phút thì lưới đã được gỡ ra. Tàu được kéo ra khỏi lưới vì lo ngại rằng lưới sẽ quấn them vào chân vịt. Sau đó cho nghiêng tàu về phía mũi. Kiểm tra lại chân vịt, bánh lái thẳng đứng và nằm ngang, xoay lại chúng.
Từ ý kiến của dân chài thì lưới được cấp ngày 02 tháng 6 năm 1940, chiều dài là 1100m và thuộc quyền sở hữu của làng đánh cá.
Tình hình thời tiết: gió SE cấp 2, sóng cấp 2, tầm nhìn xa hoàn toàn từ E sang SW, Bờ biển ở phía W, sương mù ở phía NW.
Hư hỏng:
Những chỗ mỏng của kính tiềm vọng А 160 № 338 năm1936 bị cong vênh.
Cột của kính tiềm vọng trên đài chỉ huy bị rạn nứt. Cột và kính tiềm vọng cần được thay thế. Không có trường hợp nào bị thương vong.
Nguyên nhân tai nạn:
Không thực hiện đúng theo ˝quy tắc hàng hải tại cảng Vladivastok˝ .
Không có khả năng phát hiện ra lưới và phao nửa chìm trong kính tiềm vọng ở khoảng cách có thể dừng tàu lại kịp.
Những người mắc lỗi xảy ra tai nạn:
Thuyền trưởng tàu ngầm - người đã đứng chỗ kính tiềm vọng.
Làng chài lưới đánh cá vì đã:
Thả lưới vào vùng cấm.
Việc thả lưới mà không có xuồng ca nô.
25 Tháng 7.
Ngày 25 tháng 7 năm 1940 tàu ngầm M-48, thuyền trưởng trung úy Цветко, trong quá trình quay trở về căn cứ trong sương mù vì một sai lầm ngớ ngẩn trong việc tính vị trí và không có các biện pháp đề phòng khi chạy trong sương mù nên đã mắc cạn
26 Tháng 7.
Ngày 26 tháng 7 trên tàu ngầm M-24 – hải đội tàu ngầm thứ 24 của lữ đoàn tàu ngầm thứ 2 thuộc hạm đội thái bình dương trong quá trình cập bến để neo đậu thì kỹ sư điện Свиридов đã cho thợ máy học việc còn thiếu kinh nghiệm Андрианова điều khiển động cơ điện chân vịt.
Trong quá trình cập bến thì thuyền trưởng thượng úy Яйло đã chỉ huy qua điện đàm: ˝Lùi về sau hết cỡ˝. Thợ máy học việc Андрианова thay vì điều khiển động cơ điện chân vịt lùi về sau thì lại cho tiến về trước hết lực. Kết quả là tàu ngầm bị va đập phần sống mũi tàu vào rầm xà của bến và bị dập nát phần mũi đến tận vách ngăn của sườn tàu số 0.
Đội cơ khí của đội tàu ngầm đã sửa chữa hư hỏng. Phần hư hỏng được cắt đi đến vách ngăn của sườn tàu số 0 và lắp đặt phần mũi mới.
Tàu ngầm không bị ngừng hoạt động sau sự cố. Việc khắc phục mất 18 tiếng và chi phí sửa chữa là 1500-2000 rúp.
Nguyên nhân tai nạn và những người liên quan. Trong quá trình cập bến thì trưởng ngành cơ điện đáng lẽ phải đứng ở khoang số 4 và chỉ huy qua điện đàm thì lại đứng ở khoang số 3. Kỹ sư điện Свиридов đã cho phép thợ máy học việc Андрианова điều khiển động cơ điện chân vịt mà không kiểm tra hành động của anh ta.
Những người mắc sai phạm: thuyền trưởng tàu ngầm M-24 thượng úy Яйло vì đã tổ chức kém cỏi công tác trên tàu, trưởng ngành cơ điện Очеретянний vì đã không thi thành mệnh lệnh theo hạm đội thái bình dương (phải luôn có mặt ở khoang động cơ điện khi tàu neo đậu), kỹ sư điện Свиридов đã cho phép thợ máy học việc Андрианова không có nhiều kinh nghiệm điều khiển động cơ điện chân vịt.
27 Tháng 7
Tàu ngầm C-32, thuyền trưởng đại úy Павленко Стефан Клементьевич, Liên Xô, hạm đội biển đen, seria IX-бис, đưa vào hoạt động từ 25 tháng 6 năm 1940. Thời gian phục vụ 1 tháng.
Ngày 27 tháng 7 năm 1940 tàu ngầm C-32 thuộc hải đội tàu ngầm số 1 , lữ đoàn tàu ngầm, hạm đội biển đen đã quay về vũng tàu Северный từ vị trí neo đậu, khi neo đậu tại vũng thì mũi tàu đã va vào vật cản theo hướng vuông góc với hướng di chuyển.
31Tháng 7
Ngày 31 tháng 7 trong thời gian di chuyển của hải đội tàu chiến thuộc hạm đội biển đen đến Батуми thì tàu ngầm A-1 Шахтёр – hải đội tàu ngầm 24 của lữ đoàn tàu ngầm thứ 2 hạm đội biển đen từ trạng thái lặn đã thực hiện cuộc tấn công ngư lôi huấn luyện vào một trong những tàu tuần dương hạm, trên đài chỉ huy tàu khu trục Бодрый trợ lý thuyền trưởng trung úy Максимов đã vô cớ nhận định tấn công tàu ngầm A-1 vì cho rằng là quân địch, thực hiện cú đâm vào tàu ngầm – thay đổi hướng di chuyển về phía kính tiềm vọng, phát còi và lệnh ném bom ngầm. Tàu ngầm đã hứng chịu cú va đập vào kính tiềm vọng từ thân của tàu khu trục và đèn cột lái bị hư nhẹ . Kết quả là kính tiềm vọng bị hỏng.
Vào lúc 08.30 thuyền trưởng tàu ngầm trung úy Моргун đã phát hiện ra tàu khu trục, phát báo động chiến đấu và thực hiện tấn công.
Sau 10 phút thuyền trưởng tàu ngầm đã phát hiện rằng chỉ có thể tấn công chiếc tàu tuần dương hạm cuối sau ˝ Красный Кавказ˝.
Từ việc lấy góc phương vị trên các tàu khu trục cho thấy rằng tàu ngầm có khả năng phá thủng phòng tuyến từ cánh giữa tàu khu trục thứ nhất và thứ hai. Góc phương vị trên tàu khu trục thứ hai đã đi ra phía đuôi tàu ngầm.
Khi khoảng cách đến tàu khu trục thứ hai là 10 cabentôp (gần 1850m) trên góc tiến 100 thuyền trưởng tàu ngầm đã giảm vận tốc từ 4 xuống 2,5 hải lý, nhưng lập tức phát hiện ra rằng đã rất gần boong mũi tàu khu trục, ra lệnh tiến hết tốc lực và lặn xuống với độ nghiêng dọc ở mũi tàu là 60
Gần 08.55 ở độ sâu 32-34 fut(9,7m – 10,4m) tàu ngầm A-1 đã nhận cú va đập vào kính tiềm vọng và đèn cột lái. Cú va đập và sự nghiêng trên tàu ngầm đã không được phát hiện.
Sau hậu quả của cú va đập của tầu ngầm với tàu khu trục thì kính tiềm vọng đã bị hư hỏng và không thể sử dụng trong thời gian sắp tới, hư hỏng trên tàu khu trục đã không rõ.
Trợ lý thuyền trưởng tàu khu trục trung úy Максимов từ các giáo án của các tài liệu đã biết rằng tại Батуми sẽ có cuộc tấn công của tàu ngầm của chúng ta. Thuyền trưởng tàu khu trục trung úy Митин ngoài ra đã cho ông ta chỉ dẫn rằng tàu ngầm sẽ thực hiện cuộc tấn công mở, còn tàu mặt nước không thể tránh được các cuộc tấn công tàu ngầm. Dù điều kiện đơn giản của cuộc tấn công – tầm nhìn xa tốt, hoàn toàn lặng gió, kính tiềm vọng của tàu ngầm A-1 đã được phát hiện ở khoảng cách 0,5 cabentôp trên góc tiến 100.
Trung úy Максимов quyết định rằng tàu ngầm đã thay đổi hướng trên kính tiềm vọng, phát còi và lệnh ném bom ngầm. Khẩu lệnh cuối cùng đến bốt của bom ngầm đã không đến được vì liên lạc kém, trận ném bom đã không được tiến hành.
KẾT LUẬN:
1. Thuyền trưởng tàu ngầm A-1 trung úy Моргун khi điều phối cuộc tấn công ngư lôi vào tuần dương hạm dã mắc một số lỗi sau:
a) Đã không xác định được trật tự di chuyển của hạm đội tàu.
b) Đã không đo khoảng cách đến tuần dương hạm và đến tàu khu trục bảo vệ.
c) Có góc phương vị đến tàu khu trục đi về phía đuôi, đã giảm vận tốc từ 4 xuống 2,5 hải lý, chậm trễ thoát đến độ sâu an toàn, đưa tàu ngầm vào vị trí rất phức tạp, làm mất thời cơ tấn công quyết định.
2. Chỉ huy hải đội tàu ngầm thứ 24 trung úy Бобров trong khi trên tàu ngầm A-1, đã cho điều hành không đúng cuộc tấn công, đã không những không thể tiến lại được khoảng cách nhỏ mà còn làm lạc hướng thêm cho thuyền trưởng tàu ngầm.
3. Trợ lý thuyền trưởng tàu khu trục trung úy Максимов đã vô cớ nhận định tàu ngầm là địch, sau đó quyết định đâm vào nó và đánh bom ngầm.
4. Va chạm giữa tàu ngầm A-1 và tàu khu trục đã không xảy ra nếu như tàu khu trục không thực hiện tấn công tàu ngầm A-1 mà cho tàu ngầm có thể lặn thêm được độ sâu 2-3 fut (0,6-0,9m) còn thiếu để tàu ngầm có thể đi qua an toàn phía dưới sống tàu.
Căn cứ vào điều trên, Hội đồng quân sự của Hạm đội Biển Đen yêu cầu thông qua các giải quyết như sau :
1. Thuyền trưởng tàu ngầm A- 1 Trung úy Могрун bị cách chức và bổ nhiệm trên các tàu chiến cấp ba.
2. Chỉ huy hải đội tàu ngầm trung úy Бобров bị khiển trách.
3. Thuyền trưởng tàu khu trục trung úy Митину bị khiển trách.
4. Trợ lý thuyền trưởng tàu khu trục trung úy Максимов bị cách chức và bổ nhiệm làm trưởng ngành một tàu chiến nhỏ.
5. Nhắc nhở đối với thuyền trưởng trung tá hải quân Сергева vì đã chuẩn bị kém cho hệ thống tàu khu trục Бодрый.
HỒ SƠ
Qua phân tích tai nạn tàu ngầm A-1 vì đâm phải tàu khu trục trong thời gian tấn công ngư lôi đội tàu với tàu bảo vệ đi cùng vào lúc 08.55 ngày 31 tháng 7 năm 1940.
Thành viên trong hội đồng: chủ tịch hội hội đồng trung tá hải quân Болтунова. Các thành viên: phó tham mưu trưởng trung úy hải quân Домина, thanh tra giám sát tàu ngầm huấn luyện quân sự hạm đội hải quân thượng úy Хонес.
Thuyền trưởng tàu ngầm A-1 Trung úy hải quân Моргун vào ngày 30 tháng 7 theo chỉ thị của tư lệnh hải quân ở Батуми vào lúc 23.00 rời khỏi cảng Poti với nhiệm vụ: đóng chiếm khu vực số 6544 và tấn công tàu địch trên đường đến căn cứ.
Chỉ huy hải đội tàu ngầm trung úy Бодров cũng có mặt trên tàu ngầm A-1. Trên biển thì thuyền trưởng tàu ngầm A-1 trung úy hải quân Моргун đã nhận chỉ thị từ Chỉ huy hải đội tàu ngầm trung úy Бодров: «tàu chiến sẽ không thể tránh né được các cuộc tấn công của tàu ngầm, tàu ngầm sẽ tấn công kín những tàu chiến không có tàu hộ tống đi cùng, và tấn công mở đối với tàu có tàu hộ tống đi cùng».
Vào lúc 08.30 phát hiện ra đội tàu chiến và đã phát tín hiệu báo động chiến đấu, vách ngăn được đóng kín, khoảng cách định hướng vào lúc đó là 100 cabentôp (gần 18500m), gió cấp 1, sóng cấp 1, không có nhiều sương mù.
Thuyền trưởng tàu ngầm bắt đầu xác định đối tượng tấn công và thứ tự di chuyển. Cùng với việc phát hiện ra tàu chiến thì 3 tàu phóng lôi lớp «Буки» cũng được phát hiện, còn phía bên trái là tàu tuần dương hạm Красный Крым. Thuyền trưởng tàu ngầm nhận định tấn công tuần dương hạm và bắt đầu cơ động tương đối với nó. Góc phương vị trên tàu tuần dương hạm đã được lấy sau 2 phút. Sau 10 phút, đã phát hiện rằng tàu tuần dương hạm đã không thể bị tấn công vì sự thay đổi nhanh chóng góc phương vị về mũi. Góc tiến của tàu tuần dương hạm bằng 700, thuyền trưởng tàu ngầm báo cáo với Chỉ huy hải đội tàu ngầm rằng ông không thể tấn công tàu tuần dương hạm được.
Chỉ huy hải đội tàu ngầm trung úy hải quân Бодров đã đến kính tiềm vọng để kiểm tra va cũng phát hiện rằng góc phương vị của tàu tuần dương hạm là lớn trong khi khoảng cách đến nó là 16 cabentôp (gần 3000m). Ông ra chỉ thị: thuyền trưởng bỏ qua tuần dương hạm. Và lệnh cho thuyền trưởng tàu ngầm có thể quan sát từ xa.
Thuyền trưởng tàu ngầm đã quyết định tấn công tàu tuần dương hạm cũng trong thời gian bắt đầu quan sát tàu khu trục thứ hai và lấy góc phương vị trên nó.
Khoảng cách đến tàu tuần dương hạm cũng như đến tàu khu trục trong thời gian tấn công đến thời điểm đó đã không được xác định. Góc phương vị trên tàu khu trục thứ 2 đã đi ra đuôi và bằng 3110, 3100,3090. Theo việc quan sát góc phương vị trên tàu khu trục thì khoảng cách đến nó đã giảm đến 10 cabentôp khi góc tiến bằng 100.Thuyền trưởng Могрун đã nhận thấy sự thay đổi góc phương vị về đuôi là nguy hiểm đối với cú va đâm, ông đã giảm vận tốc từ 4 xuống 2,5 hải lý, theo cảm giác của ông thì vào lúc đó khoảng cách bằng 6 cabentôp (gần 1100m), ngay lập tức sau khi giảm tốc đã ra lệnh: «Богдан, погружаться на глубину, оба 750 А».
Thuyền trưởng trong thời điểm tạo nghiêng dọc đã đến kính tiềm vọng, phát hiện ra ở khoảng cách rất gần boong mũi chữ «БД» trên boong - đã ra thêm chỉ thị: «Боцман, ныряй» và sau đó đã thả kính tiềm vọng.
Tàu ngầm đã lặn với độ nghiêng dọc ở mũi 60 , khi đạt đến độ sâu 32-34 fut(9,7-10,4m) theo thước đo sâu ở trạm trung tâm. Gần 08.55 tàu đã va đập kính tiềm vọng vào thân tàu khu trục.
Ở khoang thứ 11 và 1 đã nghe thấy tiếng động của chân vịt, ở trạm trung tâm tiếng động có nhỏ hơn, ở khoang 1 đã nghe tiếng đập từ cú rơi của quả đối trọng kính tiềm vọng. Sau hậu quả của cú va đập thì dây chão của kính tiềm vọng bị đứt, kính tiềm vọng bị đổ trên sàn khoang.
Vì kính tiềm vọng bị đổ nên thuyền trưởng ra lệnh: «Hãy xem xét trong khoang»,
«thổi két dằn», nhưng ngay trước khi thực hiện việc thổi két dằn chính đã ra lệnh:«dừng lại». Từ trong khoang có báo cáo:«trong khoang đều ổn»
Khi tàu ở độ sâu 45 fut(13,7m) được gần 2 – 3 phút thì vào lúc 09.01 thuyền trưởng ra lệnh:« hãy xem xét trong khoang», «đứng tại vị trí chuẩn bị nổi lên», «lắng nghe trong các khoang», « thổi két dằn», «chuẩn bị hút nước ở két dằn chính». Gần 09.20 tàu ngầm được nổi lên.
Thuyền trưởng tàu ngầm lên trên đài chỉ huy đã phát hiện bên phải mũi tàu cách khoảng cách 10-15 canbentôp (gần 1850-2800m) có các tàu tuần dương hạm Красный Крым, Красный Кавказ, Ворошилов và một vài tàu khu trục. Ở phía sau đuôi phát hiện tàu khu trục «Б», di chuyển theo hướng tàu ngầm.
Thuyền trưởng tàu ngầm đã truyền tín hiệu sang tàu khu trục :«hãy tiến lại gần», trong quá trình di chuyển thì tàu khu trục thông báo rằng chỉ hư hỏng ở kính tiềm vọng, không cần sự giúp đỡ.
Từ sự điều tra tàu khu trục Бодрый đã xác định:
Thuyền trưởng tàu khu trục trung úy Митин đã ở qua đêm trên đài chỉ huy, gần 05.00 ngày 31 tháng 7 năm 1938 đã đi xuống buồng hoa tiêu, để lại trên đài chỉ huy trợ lý thuyền trưởng trung úy Максимова . Trung úy Максимова ra lệnh tăng cường quan sát, kiểm tra, chuẩn bị pháo và bom ngầm. Vào buổi sáng hôm ấy thường xuyên xuất hiện máy bay. Tàu tuần dương hạm Ворошилов đã thường xuyên phát hiện ra chúng. Những người phát tín hiệu trên tàu khu trục đã phát hiện ra điều xấu này.
Trung úy Максимова đã biết từ các tài liệu huấn luyện rằng ở Батуми tàu ngầm của ta phải được triển khai. Thuyền trưởng tàu khu trục ra chỉ thị rằng tàu ngầm sẽ thực hiện cuộc tấn công và các tàu mặt nước không quay hướng trong thời gian tấn công của tàu ngầm. Điện tín cho rằng tàu ngầm sẽ tấn công mở vào đội tàu có bảo vệ và tấn công kín nếu không có bảo vệ, và Максимова cũng đã biết điều này.
Gần 08.55 từ vị trí chuẩn bị pháo đã báo cáo: «kính tiềm vọng góc tiến bằng 100, khoảng cách 50m». Trong thời gian đầu nhận bản báo cáo thì trung úy Максимова đã nghĩ răng tàu ngầm là quân ta. Nhưng sau đó thực tế là tàu ngầm đã ở rất gần tàu khu trục và lao đến tiếp cận gần đến tàu tuần dương hạm nên đã thay đổi ý kiến của ông ta – ông ta đã quyết định rằng tàu ngầm là quân địch và ra lệnh:« di chuyển sang phải», «tăng hết tốc lực»,«kéo còi», «chuẩn bị bom». Sau khi nhận báo cáo đã «chuẩn bị bom» đã ra lệnh: « bắt đầu ném bom». Mệnh lệnh cuối cùng đến trạm bom ngầm đã không đến được vì lý do kết nối kém với trạm bom và đội viên bắn bom học việc đã đứng ở phiên gác chuẩn bị cuối cùng của bom ngầm – cuộc đánh bom đã không được thực hiện.
Trung úy Максимова đã hỏi:«vì sao không thực hiện ném bom» đúng lúc đó thì thuyền trưởng tàu khu trục trung úy Митин đã lên đài chỉ huy, ở phía bên phải mạn tàu thì đài chỉ huy của tàu ngầm đã nổi lên với ký hiệu A-1.
Trung úy Максимова chỉ sau khi bắt đầu sự điều phối của mình đã nhận báo cáo rằng trên tàu tuần dương hạm Ворошилов đã phát tín hiệu «ЭЭ» . Tín hiệu trên tàu khu trục Быстрый và còi của nó đã không được ai từ trạm gác của tàu khu trục Бодрый nhìn và nghe thấy.
Chỉ huy canh gác – trưởng ngành 3 tàu khu trục trung úy Молчанов bổ sung cho trung úy Максимова rằng không thể làm gì ngoài trừ việc ông ta đã nghe thấy tiếng súng bắn từ tàu tuần dương Ворошилов, và được thuyền trưởng tàu khu trục xác nhận, Phát súng từ tàu tuần dương Ворошилов đã đánh dấu sự phản pháo có điều kiện từ cuộc tấn công của tàu ngầm.
Sau hậu quả cú va đập thì trên tàu ngầm bị hư hỏng kính tiềm vọng, không thể sử dụng tiếp tục. từ cú va đập vào đài chỉ huy của la bàn nam châm đã làm vỡ các thiết bị bằng kim loại mềm trên boong
Theo báo cáo của thuyền trưởng tàu khu trục Бодрый trung úy Митина thì tàu khu trục không có hỏng hóc.
Trợ lý thuyền trưởng tàu khu trục Бодрый trung úy Максимова đã vô cớ nhận tàu ngầm của chúng ta là kẻ địch, đã quyết định đâm và đánh bom ngầm, và điều này đã có thể xảy ra nếu như trên tàu khu trục tín hiệu được hiệu chỉnh.
Va chạm giữa tàu ngầm A-1 và tàu khu trục đã không xảy ra nếu như tàu khu trục không thực hiện tấn công tàu ngầm A-1 mà cho tàu ngầm có thể lặn thêm được độ sâu 2-3 fut (0,6-0,9m) còn thiếu để tàu ngầm có thể đi qua an toàn phía dưới sống tàu.
Cùng với đó cũng cần nhận thấy rằng thảm họa đã được ngăn chặn kịp thời bằng mệnh lệnh: «lặn xuống» của chỉ huy hải đội tàu ngầm trung úy Бобровым.
Có khả năng trung úy Максимова đã quyết định đâm tàu ngầm từ ấn tượng từ bộ phim «kính tiềm vọng thứ tư», sản xuất năm 1939 trên màn ảnh của hãng phim «Ленфильм». Trong phim đã diễn ra tình huống tương tự , nhưng kính tiềm vọng thứ tư thuộc tàu ngầm của quân địch. Theo kịch bản phim thì tầu ngầm bị tàu khu trục của liên xô đâm chìm, nhưng một bộ phận những tàu ngầm liên xô trong thời gian đó chưa quay về căn cứ, để lại những nghi vấn, thuyền trưởng tàu khu trục đã đánh chìm tàu của mình hay chưa ?. Nghi vấn được giải quyết yên ổn sau khi điều tra tàu chìm bằng thợ lặn.
Tháng tám và sau đó.
Наруал (М-45 Narwhal), lớp Porpoise, Anh quốc, 1530,2157 tấn, kíp tàu 59 người. Được đưa vào hoạt động ngày 28 tháng 2 năm 1936. Thời gian phục vụ 4 năm 6 tháng.

Mặt cắt dọc của tàu ngầm М-45 Narwhal
Tại biển Nauy trên đường đến Тронхейму (Nauy) ngyaf 01 tháng 8 hoặc sau đó tàu ngầm Наруал bị chìm với tất cả thành viên kíp tàu mà không rõ nguyên nhân, theo tài liệu khác thì vào ngày 23 tháng tàu bị chìm ở biển Nauy tại vùng Тронхейму hàng không Đức. Vị trí và thời gian tai nạn không được xác định. Trong thảm họa đã có 59 thành viên lặn bị chết.
Theo tạp chí «Морской», số 7, 2001, từ trang 87 đến 89 [Việc sử dụng những tàu ngầm của Anh để đặt hàng rào thủy lôi trong chiến tranh thế giới thứ 2, nói chung có tính giới hạn nhưng vào năm 1940 bộ tư lệnh hải quân đã bắt buộc sử dụng những tàu ngầm thả thủy lôi để gây khó khăn cho hạm đội tập kích của Đức, trong số đó có những căn cứ ở Nauy. Từ 7 chiếc tàu ngầm đặc chủng đã bị mất 3 chiếc, trong số đó có Наруал, bỏ mạng nhưng không rõ tình tiết (theo các tài liệu chính thức thì xảy ra ngày 01 tháng 08 năm 1940 ở biển Nauy)].
01 Tháng 8.
Ngày 01 tháng 8 trong thời gian trên biển đen trong trạng thái nổi thì trên tàu ngầm Щ-207 Касатка – hải đội tàu ngầm thứ 32 - lữ đoàn tàu ngầm thứ 3 - hạm đội biển đen đã phát hiện ra hầm của khoang số 2 bị ngập nước đến 25 cm cao hơn bề mặt. Nước ngoài mạn đã xâm nhập qua van(xupap) tiêu nước của khoang do van đã không được đóng kín vì các mảnh dẻ đã rơi vào trong ổ van (xupap). Động cơ điện của máy nén khí số 1 và quạt hút bị hoen rỉ.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia hạm đội tàu chiến [ 02 tháng 08 năm 1940. Biến cố. Trong thời gian tuần tiễu cuả tàu ngầm Щ-207 học viên đánh ngư lôi Леоновый đã nhận thấy nước trong hầm của khoang số 2. Mực nước lên cao 25cm trên bề mặt. Từ hậu quả của việc nước tràn vào trong hầm thì động cơ điện của máy nén khí số 1 và quạt hút bị hoen rỉ (điện trở cách điện đã giảm từ 200Ω xuống 50Ω). Nước trong hầm đã chảy qua van xupap xả của hầm vì van không được đóng kín.
Học viên đánh ngư lôi Леонов báo cáo cho đội viên đánh ngư lôi - người mà đã xả nước trong hầm và báo cáo lên chỉ huy.
Động cơ điện của máy nén khí số 1 và quạt hút được rửa bằng cồn và sấy khô trong điều kiện của tàu ngầm, điện trở cách điện được nâng lên đến 300-400 Ω.
Nguyên nhân, những người mắc lỗi:những miếng dẻ đã rơi vào dưới van xupap vì van không được đóng kín. Phiên trực dưới tàu ngầm nhân viên điện hàng hải Тарасов và kỹ sư điện Черняев đã không kiểm tra tình trạng của hầm và thùng và chúng đã bị hỏng. Trong thời gian phiên trực cũng đã không thực hiện quy trình xem xét các hầm vì vậy mà đã không phát hiện được kịp thời nước tràn trong hầm.
Xử phạt: đưa kỹ sư điện Черняев ra tòa án binh, kỷ luật đối với Тарасова.
03 Tháng 8
Tàu ngầm U-25 thuyền trưởng trung úy Бедюн, Đức, seria 1A, 862/983 tấn, dự trữ nổi 14%, thành viên kíp tàu 43 người( 4 sỹ quan, 39 hạ sỹ quan và thủy thủ). Được đưa vào đội hình từ ngày 06 tháng 4 năm 1936. Thời gian phục vụ 4 năm 4 tháng. Trên tàu có 49 người.

Sơ đồ bố trí chung tàu ngầm U-25
Trên Biển Bắc hải, tại điểm có tọa độ 540N/050E tàu ngầm U-25 bị nổ trên tuyến phòng thủ mìn ngư lôi của Đức và đã bị chìm với toàn bộ kíp tàu. Trong thảm họa đã có 49 người chết.
25 Tháng tám
Tàu ngầm Щ-120 Навага , thuyền trưởng thượng úy Исаев Николай Васильевич, Liên Xô, hạm đội thái bình dương, seria V-бис, đưa vào hoạt động từ ngày 30 tháng 1 năm 1935, thời gian phục vụ 5 năm 7 tháng.
Tại căn cứ trong thời gian ấn định công việc chuẩn bị phao tiêu cứu hộ từ hệ quả của hành động sai lầm của thuyền viên Олегиный khi quay chân vịt của phao tiêu thì cái chốt để kẹp vòng đệm vào đinh vít đã bị cắt đứt. Hậu quả là vào ngày 25 tháng 8 trong thời gian thực hiện nghiêng dọc trên tàu ngầm Щ-210 Навага thuộc hải đội tàu ngầm 31, lữ đoàn tàu ngầm số 3, hạm đội thái bình dương thì dưới áp lực của nước ngoài mạn đã làm bứt ra thanh nối của phao tiêu. Qua lỗ hổng nước đã tràn vào khoang số 1 sau đó đến khoang số 2 và làm ướt 9 thiết bị của bộ nạp ắc quy.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia hạm đội tàu chiến ф. р-1090, оп. 5, д. 72 (Báo cáo về những sự cố của lữ đoàn tàu ngầm số 3) [ngày 25 tháng 8 năm 1940 tàu ngầm Щ-120 trong thời gian thực hiện cân bằng dọc thì chân vịt của phao tiêu bị bứt ra, qua lỗ hở của chân vịt nước đã tràn vào 9 bình ắc quy.
Thuyền trưởng tàu ngầm đã cho xả nước ở két dằn phụ và chính để tàu nổi lên. Lỗ hở được bịt kín bỏi các thuyền viên. Hành động của các thuyền viên là chính xác.
Hệ quả: vòng hãm của chân vịt phao tiêu bị bứt ra, chin bộ nạp ắc quy bị nước tràn vào, sự cố được khắc phục sau 24 tiếng.
Nguyên nhân. Vi phạm các hướng dẫn về hệ thống động cơ của thuyền viên Олегиный. Khi thực hiện việc quay chân vịt của phao tiêu đã làm đứt chốt kẹp vòng đệm với chân vịt]
28 Tháng 8
Tàu ngầm I-65, Nhật bản, lớp K05, 1705/2330 tấn, lượng nổi dự trữ 26,8%, kíp tàu 75 người. đưa vào đội hình từ ngày 8 tháng 8 năm 1932. Thòi gian phục vụ 8 năm. Trên tàu có 87 người, trong đó 76 người của kíp tàu và 7 thực tập sinh.

Sơ đồ hình dáng ngoài của tầu ngầm I-65- cùng một dạng tàu với tàu I-67.
Trong thời gian di chuyển trên biển (huấn luyện) về phía nam của vịnh Токийский trên hướng di chuyển về phía đảo Бонин tàu ngầm I-67 bị chìm với tất cả kíp tàu mà không rõ nguyên nhân, vị trí và thời gian xảy ra tai nạn không được xác định. Trong thảm họa có 87 người chết.
Cuối hè (sau 18 tháng 7).
Vào cuối mùa hè năm 1940 trong thời gian rời căn cứ Кронштадт trên đường chạy thử nghiệm ở vịnh Финский thì trên tàu ngầm Л-3 Фрунзенец vì không có dầu nhờn nên ổ trục Митчеля bị nung nóng, tàu không thể di chuyển được và đã được kéo về cảng lữ đoàn.
Theo Елюшкину А. М. «Приказано быть подводником». Saint Petersburg 2004, trang 20,21,23 [vào tháng 12 năm 1939, tàu ngầm Л-2 được chuyển từ Кронштадт
đến nhà máy «Судомех» để sửa chữa và hiện đại hóa…Ở đây cũng có nhân viên … theo kế hoạch chỉ thị thì tàu Л-3 cần phải được đại tu xong.
Trong thời gian này kỹ sư cơ khí Вайнштейн М. Ф. đã thi hành nhiệm vụ của thuyền trưởng Л-3. Không lâu sau, theo lệnh của lữ trưởng tầu ngầm thì thành phần kíp tàu Л-2 đã được chuyển sang tàu Л-3 (Фрунзенец) để lắp ghép kíp tàu theo đúng danh sách ban đầu… Vào đầu năm 1939 bổ nhiệm thuyềm trưởng mới – thiếu tá hải quân Грищенко Пётр Денисович...vừa mới tốt nghiệp học viện. Ngay sau đó thượng úy Коновалов Владимир Константинович được bổ nhiệm làm trợ lý của thuyền trưởng ...
Vào cuối mùa hè năm 1940 từ bến tàu của nhà máy «Судомех» tàu Л-3 đã rời đi cùng với những công nhân và kỹ sư đến Кронштадт để chạy thử nghiệm trên mặt nước vịnh Финск.
Trong hành trình từ Ленинград đến Кронштадт đã xuất hiện sự nung nóng ổ đỡ của trục chân vịt. Trước khi ra khơi thì một trong số các công nhân đã được giao phó nhiệm vụ tra dầu nhờn vào ổ đỡ và kiểm tra những cái nêm rẻ quạt. Dầu nhờn cũ đã xả ra từ ổ đỡ nhưng dầu nhờn mới đã không được tra vào. Và hậu quả là trên hành trình từ bến tàu ra vũng tàu thì ổ trục Митчеля bị nóng chảy. Tàu ngầm đã không di chuyển được. Thuyền trưởng đã yêu cầu sự giúp đỡ lai dắt tàu về bến của lữ đoàn.
Sự cố đã xảy ra vì sự thiếu xem xét của những chuyên gia, những người mà đã không tự kiểm tra tất cả và những người đại diện của nhà máy cũng đã chểnh mảng bỏ qua chúng.
31 Tháng 8
Theo lệnh tư lệnh hạm đội bắc thái bình dương thiếu tướng hải quân Арапова ngày 31 tháng 8 năm 1940 tàu ngầm M-45 dưới sự chỉ huy của thượng úy Буюклинского đang ở trạng thái lặn đã bị mắc cạn tại vịnh Ванин. Tàu bị hỏng trong 2 ngày. Hoa tiêu tàu M-45 trung úy Сазонов đã mất trách nhiệm đến độ không mang theo bảng điều hướng hàng hải.
02 Tháng 9.
Ngày 02 tháng 9 trong chuyến hành trình trên biển đen để đến vịnh Севастополь thì tàu ngầm M-51 vì lý do sai lầm trong tính toán khi lặn sâu đã chạm phải đá ngầm dưới đáy và hậu quả là thành chắn của bánh lái mũi ngang bên mạn trái bị gãy và uốn cong, trục lái bị uốn cong và có những lỗ thủng ở két dằn chính số 1 dưới trục lái.
Tình hình khí tượng không cho phép thực hiện công việc hiệu chỉnh tàu . Tàu ngầm đi vào khu vực thực nghiệm nước sâu. Vào lúc 12.40 tàu được lặn xuống, vận tốc 2,8 hải lý, độ nghiêng dọc mũi là 40, độ sâu 68m. Vào lúc 13.31 phần mũi tàu chạm vào nền đáy, độ sâu 30m.Tàu được nổi lên, qua kính tiềm vọng xác định vị trí của mình, mũi đất Констаитиновский ở phía 930, khoảng cách 1,5 dặm(gần 2800m), tàu ra khỏi độ sâu 60m và lặn ở độ sâu 40m. Trên tàu tất cả đều tốt. Vào lúc 14.20 tàu nổi lên vị trí tuần tiễu. Tàu bị nghiêng dọc ở mũi 2,50 vì đã hút dằn, không thể đạt được dộ nghiêng dọc nhỏ hơn vì van thông khí của két dằn chính số 1 đã tháo. Vào lúc 15.24 tàu ngầm được neo tại căn cứ.
KẾT LUẬN:
Đã không tính đến điều kiện khí tượng, làm cho việc tính toán không đủ độ chính xác, đã ủy thác cho hoa tiêu, dẫn đến xuất hiện sai số kép 1,2 dặm(gần 2200m).
Không tuân theo nguyên tắc bơi trong khu vực chuẩn bị tác chiến
Từ hậu quả của tai nạn thì cần nhanh chóng đưa tàu ngầm M-51 lên đốc trong vòng 10-12 ngày.
HỒ SƠ
Các thành viện trong hội đồng: chủ tịch hội đồng trung úy hải quân Гревцова Членов, kỹ sư trung úy hải quân Баклагина, kỹ thuật viên quân sự đại tá Миронова, thuyền trưởng tàu ngầm M-51 thượng úy Прокофьева, trưởng ngành 5 tàu ngầm M-51 kỹ thuật viên Бобылёва đã lập hồ sơ rằng tầu ngầm M-51 vào ngày 02 tháng 09 năm 1940 khi lặn sâu ở độ sâu 30m đã chạm vào đáy, hệ quả là bánh lái mũi ngang bị hư hỏng và két dằn chính số 1 bị rách.
Khi nâng mũi tàu ngầm bằng tàu giăng phao ngày 03 tháng 9 đã phát hiện:
1. Phần bảo vệ của bánh lái mũi ngang bên mạn trái bị gãy ở chỗ mối hàn.
2. Độ kín tại vị trí hàn giữa bánh lái mũi ngang và két dằn chính số 1 bị phá hủy.
3. Trục lái của bánh lái mũi ngang bị uốn về phía đuôi.
4. Ống lót nòng của súng cối có vết nứt.
5. Bánh lái mũi không quay được vì vết rách trên miếng đệm truyền động của bánh lái.
6. Trong khu vực từ sườn tàu số 7 đến số 8 có vết lõm trên thân vỏ với kích thước 20-30cm, độ sâu 3-5cm. Hội đồng tính rằng cần phải khắc phục những khuyết tật trên tàu ngầm M-51, đưa tàu ngầm về xửa tại nhà máy số 201 với thời hạn 10-12 ngày.
3 Tháng 9.
Theo mệnh lệnh của chỉ huy hạm đội thái bình dương thiếu tướng hải quân Араповa. Ngày 03 tháng 9 năm 1940 tàu ngầm M-46 dưới sự chỉ huy thượng úy Сафронова , tàu quay về huấn luyện chiến đấu, thay vì đến căn cứ Советская Гавань thì tàu đã đến vịnh Безымянная và đã đâm phải nền đáy với tốc độ tiến cao nhất. Hoa tiêu tàu ngầm M-46 trung úy Миронов đã đến độ mất ý thức trách nhiệm rằng tin vào việc xác định vị trí bằng ước phỏng khi tàu tiến lại gần bờ.
5 Tháng 9.
Tàu ngầm U-57, Đức, 291/341 tấn, dữ trữ nổi 17%, kíp tàu biên chế 25 người (3 sỹ quan, 22 hạ sỹ quan và thuyền viên). Đưa vào đội hình từ 29 tháng 12 năm 1938, thời gian phục vụ 1 năm 8 tháng.

Sơ đồ hình dáng ngoài của tàu ngầm U-57.
Ngày 05 tháng 9 ở cửa sông Эльба, trên đường đến Брунсбюттел (biển bắc hải) tàu ngầm U-57 bị chìm sau khi va chạm với tàu thủy Rona của Nauy. Trong thảm họa đã làm chết 6 người, 19 người được cứu. Cũng trong tháng đó tàu U-57 được vớt lên và ngày 11 tháng 1 năm 1938 lại được gia nhập vào hạm đội tàu Đức giống như là một tàu huấn luyện.
Theo tác phẩm «Такой была подводная война». Воениздат, Москва - 1965, trang 110, 111, 113, 115-117 [... Máy định hướng âm bị hỏng... Máy định hướng âm, sau khi được sửa thì lại bị hỏng hóc một ngày sau đó... Khi tàu ngầm đã lặn sâu... Độ sâu của biển ở đây là 45m... Dòng nước mạnh đã đập vào khoang mũi tàu, và như vậy tàu ngầm U-57 đã va phần mũi xuống đáy... La bàn đã không được chỉnh sửa.
Thế là, tàu ngầm U-57 trên đường về nhà. Kìa, nó đứng trong đêm tối ở cửa sông Эльбы, được duy trì kết nối với âu Брунсбютель bằng thiết bị tín hiệu ánh sáng. Cửa âu được mở ra, và từ đó tàu vận tải Nauy chậm rãi đi ra. Trên nó có nhìn thấy đèn tín hiệu. Tàu ngầm U-57 cũng đã bật đèn đỏ. Bỗng nhiên trên tàu vận tải xuất hiện cùng lúc đèn xanh và đỏ. Khi mà đuôi tàu vận tải Nauy vẫn nằm trong dòng nước tĩnh của âu thì mũi tàu đã đi vào luồng nước sông Эльбы và thân tàu bắt đầu trôi về phía tàu ngầm.
- Lùi về sau hết cỡ! – Топп đã ra lệnh chỉ huy rất to. Tuy vậy tàu vận tải thay đổi đột ngột phương ban đầu và đâm thân tàu vào tàu ngầm U-57 đang trên đường quay về từ cuộc hành quân.
Trên tàu ngầm đã bị rối loạn. Sau chốc lát lệnh chỉ huy vang lên:
Hãy dừng tàu! Tất cả lên mạn.!
Trong thời gian ngắn mui tàu đã ở mức mặt boong của tàu ngoại quốc, và trong khoảng 15 giây gì đó tàu ngầm bị chìm dưới mặt nước.
Dòng nước nhanh của sông Эльбы đẩy tất ra xa khu vực tai nạn. Chỉ một bộ phận nhỏ thuyền viên được vớt lên tàu Nauy. Trên trạm cứu hộ địa phương và trên trạm gác bờ đã phát báo động. Trên tàu Nauy đã thả xuồng cứu nạn. Nhưng đã rất khó khăn phát hiện người gặp nạn trong đêm tối.
Dần về sáng, các thuyền viên trên tàu ngầm vẫn chưa được tập hợp lại hết. Tàu ngầm bị nghiêng về phía mạn và bị trượt trên đáy biển. Đã có 6 người chết cùng tàu. Tất cả những người còn lại được cứu thoát.]
05 Tháng 9
Ngày 05 tháng 9 khi lặn khẩn cấp tàu ngầm M-4 hải đội tàu ngầm thứ 21 lữ đoàn tàu ngầm số 2 thuộc hạm đội bắc hải vì vô tình để mở van khí quyển của cửa nắp mũi phía trên nên nước ngoài mạn đã tràn vào trạm trung tâm và làm ướt các bộ nạp ắc quy. Việc lặn xuống đã bị dừng lại ngay lập tức, tàu nổi lên ở trạng thái nổi.
Theo cơ quan lưu trữ liêng ban Nga của hạm đội tàu chiến [ ngày 05 tháng 9 năm 1940 vào lúc 15.05 khi thực hiện lặn khẩn cấp ở độ sâu 3m theo thước đo sâu với độ nghiêng dọc ở mũi là 3,50 thì qua van khí quyển của cửa nắp mũi phía trên nước biển đã dội vào bộ ắc quy.
Các thuyền viên đã dừng lặn khẩn cấp, đóng kín nắp mũi dưới . Xả nước ở két dằn phụ số 2. Bánh lái được xoay thẳng với góc nổi. Sau khi nổi lên thì bộ ắc quy được mở ra, nước cất được hút ra và đổ đầy nước cất mới cho những bộ phận hỏng hóc. Ắc quy được rửa bằng nước cồn.
Sau hậu quả của tai nạn nước biển đã rơi trên nắp của các bộ phận số 45 và số 46 và một số ít trên bộ phận số 41, 44. Tàu không bị hỏng hóc nặng. Vào lúc 15.45 có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ và đã hoàn thành bài tập số 18 của giáo án tàu ngầm.
Nguyên nhân tai nạn. Van khí quyển đã để mở. Người mắc lỗi – thuyền trưởng tàu ngầm M-4 thượng úy Голованов].
Ngày 6 và 11 tháng 9
Ngày 6 và 11 tháng 9 tại vịnh Уссурийский trên tàu ngầm M-24 của hạm đội bắc hải trong thời gian thực hiện tấn công ngư lôi thì bộ ắc quy đã phóng điện đến hiệu điện thế dưới ngưỡng 65V, gây ra sự sunfit hóa cục bộ ắc uy.
Theo cơ quan lưu trữ liêng ban Nga của hạm đội tàu chiến [ ngày 8 tháng 9 năm 1940 khi thực hiện cuộc tấn công ngư lôi thì АБ đã bị phóng điện đến điện áp tổng 65V.
Hành động của các thuyền viên. Khi độ đặc của bình nạp ắc quy đạt được đến 130. Trưởng ngành 5 đã báo cáo cho thuyền trưởng tàu ngầm rằng không được phép phóng điện ắc quy thêm nữa. Thuyền trưởng tàu ngầm đã không chú ý đến điều đó và đã vẫn tiếp tục cuộc tấn công. Khi cho tàu tiến về trước hết tốc thì điện áp tổng của bộ ắc quy đã giảm đến 65V, ánh sáng trên tàu đã rất mờ. Sau khi nổi lên thay vì cho khởi động động cơ Diesel bằng không khí thì đã thử khởi động động cơ điện chân vịt, ngoài ra thay vì nạp ắc quy với mức 1 thì đã cho chạy dòng điện 300A trên ắc quy và hệ thống cơ phụ trợ. Khi đến cảng Разбойник mới bắt đầu nạp điện mức 1. Chỉ đến ngày 17 tháng 9 mới nạp lại.
Hệ quả của sự cố, vì sự phóng điện của bộ ắc quy dưới mức hiệu điện áp giới hạn và không thực hiện các biện pháp cần thiết, ắc quy đã bị sunfit hóa cục bộ.
Nguyên nhân và người mắc lỗi, vì vi phạm điều 192 và 245 của «quy tắc bảo dưỡng bộ ắc quy-39» đã dẫn đến trường hợp trên. Người mắc lỗi: thuyền trưởng tàu ngầm thượng úy Яйло, kỹ sư trưởng trung úy Очеретяный vì đã không áp dụng các biện pháp kịp thời để chữa bộ ắc quy và sự kém hiểu biết về «quy tắc bảo dưỡng bộ ắc quy-39»
Thượng úy Яйло bị khởi tố danh dự, phải học «quy tắc bảo dưỡng bộ ắc quy-39» và trả thi lại lần nữa.
Ngày 9 tháng 9.
Trong thời gian bắn ngư lôi diễn tập trên tàu ngầm Щ-422 ngày 09 tháng 9 năm 1940 thì ngư lôi 53-38 г. № 5164 đã bị hỏng và chìm (được trang bị vào năm 1939)
Nguyên nhân của việc chìm ngư lôi là do sự chểnh mảng từ phía các thuyền viên tàu ngầm Щ-422, đội trưởng đội trắc thủ Лопатин, người chuẩn bị máy phóng lôi cho việc phóng lôi đã không điền đầy đủ bộ điều chỉnh quá trình của hộp tự động , đã báo cáo cho trưởng ngành 3 rằng мат. Часть đã được chuẩn bị cho hoạt động. Trưởng ngành 3 trung úy Жаров đã không kiểm tra sự hiệu chỉnh hoạt động của мат. Часть , đã không tiến hành điều chỉnh hộp tự động trong quá trình hoạt động của nam châm điện xôlênoit, hơn nữa việc hiệu chỉnh thanh kéo của thiết bị thay vì theo ấn định của ПМС № Г-13 là 10 ngày thì đã xảy ra 13 ngày trước.
Hệ quả là trong những loạt bắn thì hộp tự động thay vì được ấn định 4 giây đã thực hiện 2 giây, van chiến đấu của thiết bị phóng lôi đã được mở trong một phần giây, chỉ 3 amôtphe khí quyển lọt vào máy. Đã xảy ra sự dịch chuyển ngư lôi về phía thiết bị phóng lôi, cò súng bị mở tung, ngư lôi đã từ từ đi ra khỏi thiết bị phóng lôi. Áp lực còn lại trong bình bắn là 17atm.
Ngoài ra, vì báo cáo không đúng ở trung tâm điều khiển về sự rơi ra từ thiết bị phóng lôi của ngư lôi, thuyền viên của khoang mũi đã bị lung túng và không thể thực hiện phát bắn lại bằng tay để có thể cứu ngư lôi khỏi bị chìm và hư hỏng.
Sau khi tàu ngầm nổi lên thì phần đuôi ngư lôi nằm phía dưới tấm chắn sóng trong vài phút, sau đó phần đuôi trượt xuống và ngư lôi bị chìm. Các thành viên tàu trong thời gian đó có mặt trên mặt boong và đã đứng xem ngư lôi bị chìm mà không có các biện pháp cứu vớt chúng.
Độ sâu của biển tại vị trí chìm của ngư lôi là 250m, không thể vớt được ngư lôi lên. Ngư lôi 53-38 г. № 5164 trên tàu ngầm Щ-422 bị chìm vì: sự chểnh mảng của đội trưởng trắc thủ ngư lôi Лопатина, đã không chuẩn bị мат. Часть cho hoạt động, không thực hiện ПМС № Г-13 bởi trưởng ngành 3 Жаровый, không kiểm tra tính hoạt động ổn định của мат. Часть trước các phát bắn, không thực hiện điều phối kịp thời và năng lực điều hành kém cỏi của truyền trưởng tàu ngầm Щ-422 trung úy hải quân Денисов, không áp dụng tất cả các biện pháp để cứu vớt ngư lôi.
Hạ lệnh:
Đội trưởng đội trắc thủ ngư lôi Лопатин vì đã chuẩn bị мат. части kém cho phát bắn, vì báo cáo không đúng cho trưởng ngành vũ khí dẫn đến ngư lôi bị chìm, bị giáng chức xuống binh nhì.
Trưởng ngành vũ khí trung úy Жарова vì không thực hiện đúng quy tắc phóng lôi, vì thiếu sự kiểm tra chuẩn bị cho phát bắn bị đưa ra tòa án danh dự.
Thuyền trưởng tàu ngầm Щ-422 trung úy hải quân Денисов vì đã không thực hiện các biện pháp kịp thời để cứu vớt ngư lôi bị khiển trách nghiêm khắc.
13 Tháng 9.
Ngày 13 tháng 9 trong thời gian lặn tàu ngầm M-25 thuộc hạm đội thái bình dương vì vô tình để mở van khí quyển của cửa nắp mũi trên nên nước ngoài mạn đã tràn vào bốt trung tâm (khoang 2), nước biển đã rơi vào các thiết bị của bộ ắc quy. Quá trình lặn bị dừng lại ngay sau đó và tàu ngầm được nổi lên ở trạng trái nổi.
Theo cơ quan lưu trữ liêng ban Nga của hạm đội tàu chiến [ngày 13 tháng 9 năm 1945 tàu ngầm M-25 trước khi điều chỉnh độ nghiêng dọc dưới sự chỉ huy của trưởng ngành 5 Павловым thì tàu đã được kiểm tra độ kín. Sau khi kiểm tra, trước khi mở nắp để thông khí, trưởng ngành 5 đã mở van khí quyển và cửa làm việc rồi báo cáo lên đài chỉ huy cho thuyền trưởng tàu ngầm thượng úy Баркову chuẩn bị lặn, ông đã quên đóng van khí quyển. Sau báo cáo của trưởng ngành 5 thì thuyền trưởng tàu ngầm ra lệnh trên đài chỉ huy: «chuẩn bị cho lặn», ông ta leo xuống tàu và đóng cửa làm việc mà không kiểm tra việc đóng van khí quyển. Khi bơm đầy két dằn chính thì ở độ sâu 3m nước biển đã tràn vào bốt trung tâm thông qua van khí quyển.
Hành động của các thuyền viên. Nhanh chóng thổi sạch két dằn và đóng cửa làm việc phía dưới. sau đó hút dằn để tàu nổi lên hoàn toàn, Sàn khoang và bộ ắc quy được mở ra, các thiết bị được kiểm tra. Lau chùi các vệt nước trên nắp thiết bị số 1.
Hệ quả, một lượng nước nhỏ đã tràn vào khoang dưới sự ảnh hưởng của độ nghiêng dọc 30 về mũi. Trên nắp của thiết bị số 1 và máy phân ly đã phát hiện những vệt nước. Từ nắp và máy phân ly có thể ngửi thấy mùi clo nhẹ bởi vì có một lớp mỏng hơi axit kết tủa. Nước không rơi vào các thiết bị, để bảo hành thì lớp trên đã được hút đi. Tất cả được đưa về trạng thái ban đầu, và tàu ngầm trong thời gian ấn định đã tham gia vào hoàn thành các nhiệm vụ.
Nguyên nhân tràn nước – không đóng van khí quyển của cửa làm việc phía trên.
Người mắc lỗi: thuyền trưởng tàu ngầm thượng úy Барков, đã không kiểm tra việc đóng kín của van khí quyển và cửa làm việc.
Ngày 24 tháng 9.
Ngày 24 tháng 9 tàu ngầm Л-14 thuộc hạm đội thái bình dương nổi lên trong điều kiện trạng thái biển cấp 5-6 và vị trí của bánh lái mũi ngang là 20°, khi nổi lên thì đã xảy ra sự va đập của sóng biển vào tấm lái. Hậu quả là tấm lái bị quay tự do và bị hỏng.
Hư hỏng được các thuyền viên xem xét và xác định: ren trục cần được cắt đi cùng với rãnh ren trong. Bánh lái được đặt lại vị trí ban đầu và được nêm bằng con nêm.
Hệ quả của tai nạn. Khi tàu được đưa về căn cứ và tháo ra đã xác định: ren trục với rãnh ren trong mài mòn từ 6 đến 1mm. Va đập của sóng vào tấm lái của bánh lái mũi ngang làm cho tất cả ren trục phải cưa đi. Trục mới với rãnh ren trong cần được làm mới. Thời gian chuẩn bị và lắp đặt là 7 ngày đêm.
Nguyên nhân hỏng hóc. Sự mài mòn tự nhiên của ren trục với rãnh ren trong.
Lệnh cho tất cả các tàu ngầm seria XIII tháo rời và kiểm tra trục với rãnh ren trong của bánh lái ngang trước và bánh lái ngang sau.
Tháng 9 (năm 1940).
Vào tháng 9 năm 1940 trong quá trình lặn tầu ngầm Л-1 Ленинец thuộc hạm đội ban-tích vì cụm nắp kín nước của bánh lái mũi ngang bị rơi xuống két dằn mũi nên nước biển đã tràn vào. Tàu ngầm bị nghiêng dọc đến 300 phía mũi, và làm cho chất điện phân bị hắt ra. Và như vậy bộ ắc quy trên than tàu bị ngắn mạch.
05 Tháng 10.
Ngày 05 tháng 10 trên tàu ngầm Щ-113 Стерлядь thuộc hạm đội thái bình dương được sửa chữa cấp nhà máy, khi khởi hành từ hướng đông của bến cảng số 3 trong điều kiện gió hướng đông giật, khi lùi về phía sau thì góc khởi hành giữa bến cảng và thân tàu không đủ lớn. Và hậu quả là mũi tàu đã đè lên phần đuôi bến cảng.
Theo cơ quan lưu trữ liêng ban Nga của hạm đội tàu chiến [ngày 05 tháng 9 năm 1940, tàu ngầm Щ-113 được sửa chữa cấp nhà máy, khi khởi hành từ hướng đông của bến cảng số 3 bên trái mạn- gió hướng đông giật cấp 5-6, khi lùi về sau thì mũi tàu đã đè lên phần đuôi bến cảng và tấm lái bên trái của bánh lái mũi ngang bị mắc vào cột chống của bến cảng.
Các thuyền viên đã cho chuyển động bằng động cơ điện :«bên phải – về sau hết lực, bên trái – tiến lên», cùng lúc tàu được đẩy ra khỏi cột.
Hậu quả là trục lái của bánh lái mũi ngang bên mạn trái bị bẻ cong về phía mũi, thực ra trước đó thì nó đã cong về phía mũi 12mm. Thời gian bảo dưỡng là 12 ngày đêm, hao phí là 7000 rúp. Công việc sửa chữa được tiến hành bởi phân xưởng cơ khí của đội tàu ngầm số 1.
Nguyên nhân tai nạn. Góc lùi giữa bến cảng và tàu ngầm là không đủ. Còn do dự và thiếu kinh nghiệm trong điều khiển tàu của thuyền trưởng. Người mắc lỗi – thuyền trưởng tàu ngầm trung úy Санин.
8 tháng 9
Джемма (Gemma), loại 600, seria Perla, Italia, 695/855 tấn, lượng dự trữ nổi 18%, kíp tàu biên chế 44 người (4 sỹ quan, 40 hạ sỹ quan). Đi vào hoạt động 8 tháng 7 năm 1936, thời hạn phục vụ 1 năm 3 tháng.

S
Sơ đồ hình dáng bề ngoài tàu ngầm Gemma.
Ngày 8 tháng 10, theo tài liệu khác thì ngày 6 tháng 10 trên biển Эгейск trên hành trình đến Карпатос, theo tài liệu khác thì đến Родос tại điểm có tọa độ 35030’N/27018’WA tàu ngầm Gemma bị nhận nhầm là tàu Anh quốc, tàu ngầm của Italia bị tấn công và bị chìm, theo dữ liệu của các tại liệu khác thì là tàu ngầm Тричеко. Trong thảm họa đã có 44 người chết.
Ngày 09 tháng 10 tàu ngầm Щ-213 и Щ-215
Ngày 8 tháng 10 ở vịnh Каркинитский khi thực hiện cuộc diễn tập chung của tàu ngầm Щ-213 và Щ-215 thuộc hạm đội biển đen thì trên tàu ngầm Щ-215 vì sự nung nóng cầu chì của bánh lái thẳng đứng nên bánh lái bị kẹt chặt và do độ dự trù khoảng cách nhỏ nên đã xảy ra va chạm giữa tàu ngầm Щ -213 và Щ-215.
Hành động của thuyền viên: cho tàu ngầm Щ-215 lùi về sau hết tốc lực, việc điều khiển được thực hiện bằng tay, tàu ngầm Щ-213 được ra mệnh lệnh «quay bên mạn trái» và động cơ diesel được dừng lại. Để xích lại gần đã cho cả hai động cơ điện chân vịt tiến về trước hết tốc lực.
Hậu quả của cú va chạm: trên tàu ngầm Щ-215 bị hư hỏng máy cắt lưới «Краб». Tàu ngầm Щ-213 – bị lõm ở thân vỏ nhẹ trên sườn tàu số 65.
Tai nạn được phân tích bởi lữ trưởng tàu ngầm số 3 – hạm đội biển đen. Hành động của cả hai thuyền trưởng được xác định là chính xác và kịp thời. Hành động đã ngăn ngừa được tai nạn lớn.
Với mục đích ngăn ngừa các trường hợp tương tự thì cầu chì của bánh lái thẳng đứng cần được thay thế bằng cầu dao tự động.
12-15 tháng 10 hoắc sau đó.
Фока (Роса), lớp Poca II, Italia, 1318/1647 tấn, lượng dự trữ nổi 23%, kíp tàu biên chế 60 người(7 sỹ quan, 53 hạ sỹ quan). Đưa vào hoạt động từ 06 tháng 11 năm 1937. Thời hạn phục vụ 3 năm.

Sơ đồ hình dáng ngoài của tàu ngầm Poca
Tại phần phía đông của biển Средиземн, trên hành trình đến cảng Хайфа trong khoảng thời gian tháng 11- 12 tàu ngầm Poca đã bị đắm cùng với toàn bộ kíp tàu mà không rõ nguyên nhân, theo tài liệu khác, tàu bị nổ do mìn và bị nạn vào ngày 23 tháng 10. Nguyên nhân, vị trí và thời gian bị nạn đã không được xác định. Trong thảm họa có 60 người bị chết.
15 tháng 10
Ngày 15 tháng 10 trên tàu ngầm M-173 đã bị hỏng động cơ Diesel. Sau khi tháo động cơ ra thì phát hiện ra dấu cọ xước trên bề mặt ống lót trong pittông của xi-lanh thứ 4, tàu ngầm M-173 đã quay về căn cứ bằng động cơ điện chân vịt.
19 tháng 10.
Ngày 19 tháng 10 trên khu vực Либавск tàu ngầm Щ-306 Пикша bị đâm phần mũi vào mạn trái tàu БТЩ-202. Tai nạn đã làm chết một người lính hải quân liên xô từ kíp tàu của tàu quét mìn.
Theo cơ quan lưu trữ liêng ban Nga của hạm đội tàu chiến [ngày 19 tháng 10 năm 1940 trên khu vực Либавск tàu đã xảy ra cú đâm va giữa tàu ngầm Щ-306 và tàu quét mìn БТЩ-202. Tàu ngầm bị đâm phần mũi vào mạn trái tàu БТЩ-202, cả hai tàu đêỳ bị hư hỏng đáng kể, một người lính hải quân đã chết – thợ động cơ tàu БТЩ-202 Алексашенко.
Tai nạn đã xảy ra vì các nguyên do:
Sự vắng mặt của thuyền trưởng tàu ngầm Щ-306 trung úy hải quân Басукова trên đài chỉ huy.
Hành động không đúng của trưởng canh gác tàu Щ-306 trung úy hải quân Дюбарова.
Hạ lệnh:
Trung úy Дюбарова bị cách chức khỏi chức vụ trợ lý thuyền trưởng tàu Щ-306 và bị khiển trách nghiêm khắc.
Thuyền trưởng tàu Щ-306 bị kiểm điểm vì đã rời vị trí trên đài chỉ huy.
19 tháng 10 và sau đó.
Трайад (Т-53 Triad), lớp T, Anh quốc, 1325/1580 tấn, lượng dự trữ nổi 18%, kíp tàu biên chế 59 người. Đưa vào hoạt động từ 16 tháng 9 năm 1939. Thời hạn phục vụ hơn 1 năm.
Ở bờ biển Libia tài ngầm Трайад đã bị chìm với tất cả kíp tàu ma fkhoong roc nguyên nhân. Nguyên nhân, vị trí và thời gian đã không được xác định. Theo tài liệu khác thì tàu bị chìm ở bờ biển Libia do bom ngầm của tàu Italia. Có 59 người chết trong thảm họa.
21 tháng 10.
Ngày 21 tháng 10 vào lúc 05.00 tàu thủy Астрид (Astrid, năm 1901, đóng bằng gỗ, chiếu sáng bằng dầu hỏa), thực hiện chuyến hành trình đều đặn trên vịnh Phần lan, đã đi từ cảng thường mại thành phố Ленинград đến Мянтилуото.
Cũng trong thời gian này ở vịnh Phần lan trên lối vào phía đông đến đảo Гогланд thì tàu ngầm C-102 đã thực hiện 24 tiếng đồng hồ chạy thử nghiệm hết tốc độ trong trạng thái nổi(19 hải lý).
Trên một hướng từ các luồng , vào lúc 22.55 ở khoảng cách chừng 8 dặm cách cực nam của đảo Гогланд tại điểm có tọa độ 60°03”5 E/ 27°14”5 SW tàu ngầm C-102 đi phía sau đuôi tàu thủy Астрид – đã đi mà không có các đèn hiệu ở đuôi. Tàu ngầm đã vô tình đâm vào đuôi tàu Астрид và bị chìm.
Có mặt trên đài chỉ huy có thuyền trưởng tàu ngầm trung úy hải quân Иванов, chỉ huy trực trung úy Павлов, tín hiệu viên Уманец, lái tàu Лабутин và tư lệnh hạm đội, kỹ sư cơ khí, kỹ sư – thiếu tá hải quân Браман đã tiến lại gần tàu, họ đã phát hiện thấy ánh sáng từ cánh cửa được mở ra bất ngờ từ mặt boong của tàu thủy Астрид khi trực tiếp đến gần, lúc đó sự đâm va là không thể tánh khỏi.
Không một ai từ các thuyền viên trên tàu Астрид nhìn thấy tàu ngầm C-102 đang đi phía sau với tất cả các đèn tín hiệu theo tiêu chuẩn quốc tế để phòng tránh đâm va giữa các tàu trên biển. Trên tàu Астрид đã cảm nhận được cú va chạm mạnh, sau đó nghe thấy tiếng rít mạnh từ hướng đuôi tàu bên mạn trái. Thuyền trưởng tàu Астрид - Йоханнес Элис Густавсон nhanh chóng leo từ cabin lên mặt boong, trên đường đi đánh thức phục vụ tàu và người bán căng-tin và tất cả những cabin bên cạnh. Khi ông ta leo lên đến mặt boong trên thì nghe thấy tiếng kêu trên phiên gác của người giúp việc: «tàu bị chìm!». Cùng lúc họ nhìn thấy trong nhá nhem tối có một tàu ngầm không quen biết. Thuyền trưởng tàu Астрид bắt đầu thả xuồng cứu hộ bên mạn trái để ngồi lên chúng, nhưng tàu chìm quá nhanh. Các thuyền viên tàu ngầm С-102 đã cứu được thuyền trưởng, thợ cơ khí và thợ đốt lò từ thành phần kíp tàu của tàu Астрид, nhưng đã có 10 người chết – 2 phụ nữ và 8 thủy thủ của hạm đội thương nghiệp.
Trong báo cáo về kết quả sơ bộ điều tra các tình tiết cú va chạm giữa tàu ngầm C-102 với thuyền buồm Phần lan trên vùng phía đông vịnh Phần lan ngày 21 tháng 10 năm 1940:
1. Thuyền buồm đã không mang theo đèn báo di chuyển vì vậy trạm gác phía trên của tàu ngầm không thể thấy thuyền buồm đi phía trước.
2. Thuyền buồm Астрид đóng năm 1901 bằng gỗ không có vách ngăn kín nước. Thành phần kíp tàu thuyền buồm là 13 người, trong đó có 2 phụ nữ và 4 thủy thủ thiếu. Trong số 4 thủy thủ thiếu niên có 3 người lần đầu tiên ra biển. Những thiếu niên này làm việc trên boong, có trách nhiệm quan sát đèn tín hiệu.
3. Thời tiết trên biển: gió hướng đông bắc cấp 6-7, sóng cấp 5, tầm nhìn xa tốt, đèn hải đăng được nhìn thấy rõ ràng.
4. Các biện pháp cứu người đã được áp dụng, nhưng vì thời tiết khắc nghiệt và thuyền buồm chìm quá nhanh nên trừ 3 người được cứu vớt thì số khác không thể cứu được.
Kết luận: Lỗi thuộc về phía thuyền buồm, đã không mang theo đèn báo vị trí di chuyển.
Báo cáo cho chủ tịch hội đồng ủy ban nhân dân Liên Xô В. М. Молотову, ủy ban trung ương của đảng cộng sản Liên Xô А. А. Жданову.
1. Theo tài liệu cở sở điều tra vụ va chạm giữa tàu ngầm C-102 và tàu thủy Астрид của Phần lan xảy ra ngày 21 thangs10 năm 1940 tại phần phía đông vịnh Phần lan đã xác định rằng, nguyên nhân va chạm và hệ quả theo chúng là cái chết của tàu thủy Астрид Phần lan do sự cẩu thả và không chú ý thực hiện trách nhiệm phiên gác của thuyền viên trên tàu, họ đã:
a) Không nhận ra rằng đèn phía đuôi đã bị tắt; theo luật quốc tế «quy tắc ngăn ngừa va chạm tàu thuyền trên biển» - xuất bản trung tâm điều phối thủy văn ВМФ-39, chương II, trang 13 «Các đèn hiệu của tàu đi phía sau» điều 10 đã nêu rõ: «trên tàu mà có tàu đi phía sau phải chỉ dẫn phần đuôi cho tàu đi sau hoặc bằng đèn trắng hoặc đèn nhấp nháy».
b) Đã không nhìn thấy tàu ngầm C-102 đi phía sau tàu Астрид với tất cả đèn tín hiệu theo quy tắc quốc tế để ngăn ngừa va chạm tàu thủy trên biển.
c) Đã không thực hiện các quy tắc về đèn hiệu tương tự để gây sự chú ý cho tàu ngầm.
Cũng trong tài liệu đó ở chương II, trang 13 «Tín hiệu, để gây sự chú ý đến mình» điều 12 cũng nêu rõ: «từng tàu, phải gây sự chú ý đến mình, để tăng thêm cho đèn chỉ báo theo đúng quy tắc trên có thể cho phát đèn nhấp nháy, đốt pháo sáng, hoặc có thể dùng mọi tín hiệu âm thanh, nhưng với điều kiện rằng nó không gây sự hiểu lầm rằng đó là tín hiệu tai nạn».
Cũng trong tài liệu đó ở chương IV về chức trách, trang 18 điều 29 nêu rõ « Không một điều gì từ nội dung trong những quy tắc này có thể cứu được thuyền, chủ nhân của nó, thuyền trưởng khỏi trách nhiệm cho hậu quả, có thể xảy ra từ việc thiếu xót đối với các đèn hoặc các tín hiệu hay sự chểnh mảng quan sát phía trước, hay tiếp nhận sự phòng ngừa nào đó mà việc tuân thủ chúng cần có thực tiễn trên biển hay những tình tiết đặc biệt của tình huống đó»
Việc cứu nạn tàu Астрид không thể chứng minh được rằng đèn hiệu trên đuôi tàu đã được bật sáng trước thời điểm va chạm.
Không một ai trong số những người đứng trên đài chỉ huy tàu ngầm gồm: thuyền trưởng tàu ngầm trung úy hải quân Иванов, chỉ huy trực trung úy Павлов, tín hiệu viên Уманец, lái tàu Лабутин và tư lệnh hạm đội, kỹ sư cơ khí, kỹ sư – thiếu tá hải quân Браман trông thấy đèn tín hiệu trên mũi tàu Астрид. Những người trên chỉ phát hiện ra đã đến gần tàu Астрид theo ánh sáng từ cánh cửa bất ngờ mở ra trên mặt boong khi đã rất gần nhau và sự va chạm là không thể tránh né được.
d) Thuyền Астрид đã vi phạm điều 10 và 12 chương II và điều 29 chương IV «quy tắc ngăn ngừa va chạm tàu thuyền trên biển»
2. Vào thời điểm va chạm, trời đã tối, gió đông bắc thổi, đôi lúc có gió giật, tàu ngầm thực hiện chạy thử nghiệm 24 tiếng hết tốc lực.
3. Thuyền Астрид làm từ gỗ chiếu sáng bằng dầu hỏa, thuộc quyền sở hữu của công dân Phần lan Карл Херлинг, được đóng năm 1901, lượng choán nước 602, được trang bị động cơ hơi nước công suất 370. Thuyền viên có 13 người, trong số đó có 2 phụ nữ và 4 thanh thiếu niên, từ 4 thanh thiếu niên đó có 3 người lần đầu tiên đi biển.
4. Tàu ngầm C-102 đã hành động đúng. Tuy vậy vì sự bỏ sót được phát hiện trong điều tra va chạm của tàu ngầm với thuyền Астрид không liên can trực tiếp đến vụ va chạm, thuyền trưởng tàu ngầm diesel 16 của đội tàu ngầm số 1 trung úy hải quân Хомяков và trực gác trung úy Павлов bị chịu các hình thức kỷ luật.
Theo Колышкин И. А. В В глубинах полярных морей. Воениздат. М- 1970, trang 61,62 [trong một đêm trời tối, trên tàu ngầm cùng đi có chỉ huy hải đội trung úy hải quân Хомяков đã va vào thuyền buồm nhỏ của Phần lan. Tai nạn đã xảy ra xuất phát từ lỗi của thuyền buồm. Nhưng dù sao trên thực tế đây vẫn là vụ va chạm và lại còn với một tàu nước ngoài. Cho nên từ sự xem xét ngoại giao đã quyết định xử phạt đối với chỉ huy hải đội. Không cách chức, nhưng cấp bậc bị giáng một bậc. cũng trong thời gian này ở Mascơva đã kí quyết định thăng quân hàm cho Хомяков làm thiếu tá hải quân. Nhưng quyết định ấy đã không đến được hạm đội. Хомяков trở thành thượng úy…].
Theo kết quả điều tra từ các thuyền viên tàu ngầm C-102 đã không có ai bị quy trách nhiệm hình sự. Kíp tàu đã hành động đúng đắn. Cho dù tai nạn đã xảy ra từ lỗi của thuyền buồm nhưng từ sự xem xét ngoại giao đã quyết định xử phạt thuyền trưởng tàu ngầm C-102 trung úy hải quân Иванов Б. В. và chỉ huy hải đội tàu ngầm số 16 trung úy Хомяков М. Ф. Không cách chức của họ nhưng giáng cấp bậc quân hàm xuống một bậc.
Đây là một trong những biện pháp giáo dục thuyền viên của quân ủy hải quân Liên xô tướng Кузнецов, khi mà vì một lỗi mắc phải đã bị xử phạt hai lần: Về tinh thần: phục tùng chỉ huy cấp trên theo cấp bậc, và về mặt vật chất – Người mắc lỗi phải nhận sinh hoạt phí ít hơn trước theo vị trí công tác.
20 tháng 10
Theo lệnh chỉ huy của tư lệnh trưởng hạm đội phía tây Дрозд № 0108 từ ngày 27 tháng 3 năm 1940 đến ngày 8 tháng 4 năm 1940 tàu ngầm Щ-402 hải đội tàu ngầm thứ 2 thuộc hạm đội phía Tây được đưa vào sửa chữa vừa và theo lệnh № 0306 từ ngày 15 thangs 8 năm 1940 đến ngày 27 tháng 8 năm 1940 tàu sẽ tham gia vào chiến dịch.
Theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiến [Theo lệnh chỉ huy của tư lệnh trưởng hạm đội phía tây. Nội dung: về sự hỏng hóc của bánh lái hướng ở đuôi trên tàu ngầm Щ-402.
Trên tàu ngầm Щ-402 khi đang di chuyển sau khi sửa chữa vừa đã quan sát thấy nhiều lần trường hợp quá tải bánh lái hướng ở đuôi. Và cuối cùng bánh lái bị kẹt.
Để giải thích nguyên nhân bị kẹt cần đưa tàu lên đốc. Khi mở miệng lỗ tại vị trí truyền động bánh lái đã phát hiện các vật thể để lại vì sự sơ xuất: hai miếng gỗ kích thước 700x100x50 và bốn miếng gỗ mỏng. Các vật thể này bị rơi vào hệ thống truyền động và gây ra sự kẹt cứng của bánh lái. Chính vì nguyên nhân trên mà tàu ngầm Щ-402 đã bị hỏng hóc trong 20 ngày.
Vì sự thiếu kiểm tra trong thời gian sửa chữa vừa dẫn đến phải đưa tàu lên đốc ngoài định kỳ và thời gian dài hư hỏng đối với tàu ngầm – trưởng ngành 1 trung úy Леошко và trưởng ngành 5 kỹ sư – trung úy hải quân Большаков bị khiển trách nghiêm khắc.
Vì hành động xấu xí với thuyền trưởng tàu ngầm Щ-402 mà cấp dưới Добродумов bị bắt trong 5 ngày ở phòng giam trại lính – xét xử ra tòa án binh.]
23 tháng 10
Ngày 23 tháng 10 trong vùng Пицундa từ hậu quả của hành động sai lầm của thuyền trưởng trung úy hải quân Гриценко tàu ngầm ngầm Щ-204 Минога thuộc hạm đội biển đen đã lặn ở độ sâu 97m - vượt quá giới hạn khi mà độ sâu hoạt động là 75m và giới hạn là 90m.
Theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiến [23 tháng 10 năm 1940 tàu ngầm Щ-204. Biến cố. Tàu ngầm Щ-204 lặn ở độ sâu 97m - vượt quá độ sâu giới hạn ở vùng Пицундa.
Các thuyền viên đã hành động đúng và tự tin. Không có hư hỏng đối với vỏ và phần vật liệu.
Nguyên nhân: không cẩn trọng trong hành động của thuyền trưởng tàu ngầm trung úy hải quân Гриценко, người đã không tiếp nhận kịp thời và thích ứng các biện pháp tình thế. Thuyền trưởng trung úy hải quân Гриценко bị khiển trách.]
25 tháng 10.
Ngày 25 tháng 10 trong thời gian neo đậu ở bến nhà máy № 202 (Дальзавод) thành phố Владивосток trên tàu ngầm Щ-109 Сом thuộc hải đội tàu ngầm số 13, lữ đoàn tàu ngầm số 1, hạm đội thái bình dương ở khoang số 2 khi thực hiện công việc hàn do sự chuẩn bị địa điểm làm việc kém của thợ hàn dẫn đến hỏa hoạn.
Theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiếm[báo cáo về tai nạn trên tàu ngầm Щ-109 Сом, tai nạn xảy ra ngày 25 tháng 10 năm 1940.
Khi thực hiện công việc hàn trên mặt sàn dưới hầm thủy âm trong khoang số 2, những miếng giẻ đã bị cháy trong hầm và khói bắt đầu bốc lên trong khoang.
Hành động của thuyền viên. Trực phiên gác đã báo động và đám cháy đã được dập tắt bằng bình chữa cháy. Đội chữa cháy của nhà máy đã được gọi đến vì đã không rõ đang cháy cái gì. Không có thiệt hại gì. Lớp sơn trong hầm không bị cháy xém. Không có ai bị nạn.
Nguyên nhân tai nạn và những người mắc lỗi. Địa điểm nơi hàn đã được chuẩn bị kém, cho dù trực gác đã đứng rất gần nhưng đã không lấy những miếng giẻ đi. Thợ hạn của nhà máy № 202 Носенко cũng đã không quan sát địa điểm hàn, tức là địa điểm hàn đã không được chuẩn bị.
31 tháng 10.
Ngày 31 tháng 10 tại căn cứ Находка, khi đưa tàu ngầm Щ-129 thuộc hạm đội biển đen ra khỏi đốc bằng động cơ điện chân vịt dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng tàu ngầm- thiếu tá Шонин, từ hệ quả hành động sai lầm của thuyền trưởng mà đuôi tàu đã đè lên trụ cầu, Đường trục bên phải, chân vịt và khớp cam bị hỏng.
Theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiến [Mệnh lệnh cho đội tàu ngầm số 3. Nội dung: về sự hỏng hóc chân vịt trên tàu ngầm Щ-129 và sự xử phạt người mắc lỗi.
Ngày 31 tháng 10 năm 1940 khi được đưa ra khỏi đốc thì tàu ngầm bị hư hỏng như sau:
Ba cánh của chân vịt bên phải bị rách ở đuôi từ 10 đến 15 mm.
Khớp cam bên phải bị kẹt. Từ hệ quả của tai nạn trên, tàu ngầm đã không thể hoạt động trong 4 ngày và gây thiệt hại kinh tế gần 6000 rúp.
Theo điều tra của hội đồng đã xác định: thuyền trưởng tàu ngầm Щ-129 thiếu tá Шонин, đã tuân theo quy trình đưa tàu ra vào đốc ( chương « Г», mục «Е») đã quyết định tự đưa tàu ra khỏi đốc bằng động cơ điện chân vịt.
Sau khi buông neo đậu, nhận thấy rằng mũi tàu đã đi ra nhanh hơn, còn đuôi tàu đã đè lên trụ cầu, thuyền trưởng tàu ngầm Щ-129 ra lệnh bẻ lái «sang trái 150» và đồng thời cho hai lực đẩy từ động cơ điện chính дал два толчка правым ГЭД «малый вперёд»,trong trường hợp này của tàu (tàu neo mạn phải vào tường) chỉ làm tình hình thêm xấu đi.
Sau второго толчка xuất hiện tiếng gõ kim loại mạnh. Sau đấy, qua việc kiểm tra phần dưới mặt nước của tàu thì phát hiện những hỏng hóc nêu trên. Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hỏng hóc được cho từ hành động chỉ huy không đúng của thuyền trưởng tàu ngầm Щ-129 thiếu tá Шонин
Vì sự thiếu cẩn trọng điều khiển tàu khi ra khỏi đốc dẫn đến sự hỏng hóc chân vịt, đường trục và tàu ngầm không thể hoạt động trong 4 ngày thì thuyền trưởng tàu ngầm thiếu tá Шонин bị khiển trách nghiêm khắc.
LỆNH:
Các thuyền trưởng tàu ngầm khi đưa tàu vào và ra khỏi đốc phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình đưa tàu vào (ra) đốc, cần đặc biệt chú ý đến chương «Б» điều 3 và chương «T» điều 3.
Khuyến cáo đến tất cả thuyền trưởng tàu ngầm rằng từ nay trở đi nếu thiếu cẩn trọng và lơ là trong việc điều khiển tàu sẽ bị đưa ra hội đồng quân sự xét xử.
7 Tháng 11.
Sau sự đầu hàng của Pháp tàu ngầm Понселе ở lại trong biên chế của lực lượng hải quân chính phủ Vichy và nằm ở Дакар (địa trung hải), sau đó tàu đã đi đến biển Atlantic và đóng quân trên một cảng nhỏ Гентин cách thành phố Либревилль 100 dặm.
Ngày 7 tháng 11 vào lúc gần 13.00 tàu ngầm Понселе ra khơi với mục tiêu tấn công tàu chiến của Свободной Франции (những người ủng hộ tướng Де-Голя) trên vũng tàu thành phố Либревилль. Trong thời gian đó các tàu chiến của Anh đã bao vây tất cả bờ biển. Tàu ngầm Понселе đã cố thoát ra khỏi sự truy đuổi của tàu Anh Милфорд, Vào lúc 15.20 trung úy hải quân де Суасси quyết định phóng hai quả ngư lôi về phía tàu Anh. Nhưng chỉ có một quả được phóng đi, quả còn lại vẫn còn trong ống, выхлопные газы прорвались в отсек, и его пришлось покинуть. Лодке пришлось всплыть. Tàu Anh lập tức bắn pháo gây cho tàu ngầm hư hỏng rất nặng. Trong ngày hôm ấy ở vùng Порт-Жанвиль (biển Atlantic), tại điểm có tọa độ 00045’ E/09017’SW tàu ngầm Понселе bị chìm cùng toàn bộ kíp tàu.
07/08 tháng 11.
Vào tối ngày 07/08 tháng 11 trong thời gian đi tuần tiễu ở trạng thái lặn, do có bão cấp 10 trên tàu ngầm M-24 thuộc hạm đội thái bình dương và chất lượng мореходных thấp của tàu ngầm loại «M» VI seria, qua nắp buồng phía trên mở thì một lượng lớn nước ngoài mạn đã tràn vào thân vỏ cứng của tàu. Hậu quả là 18 chi tiết của bộ ắc quy bị ngập và một loạt các hệ thống máy bị hỏng.
Theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiến (báo cáo tai nạn, hư hỏng, sự cố của hạm đội thái bình dương tháng 11 năm 1940), trang 499, điểm 5[ Ngày 07 tháng 11 năm 1940 tàu ngầm M-24 thuộc hạm đội thái bình dương trong thời điểm có bão đã bị ngập 18 chi tiết của bộ ắc quy. Nước biển làm ngập động cơ điện của kính tiềm vọng, đầu dưới kính tiềm vọng, động cơ điện của quạt, trạm thủy âm. Làm hỏng ghế hoa tiêu và ghế gấp. Подплавлен подшипник «Митчеля»
Khi đưa tàu về căn cứ các thuyền viên đã tháo các hệ thống máy trên để sửa chữa. Hậu quả tai nạn là trong vỏ bộ ắc quy cần thay 18 chi tiết. Những hệ thống máy trên đã không thể hoạt động được nữa và cần thay mới.
Nguyên nhân tai nạn: tàu ngầm ở biển trong thời điểm bão cấp 10. Ổ trục «Митчеля» подплавлен vì sự kiểm tra kém của trưởng ngành 5- kỹ sư trưởng trung úy Очеретян.
11 tháng 11.
Tại căn cứ vào ngày 11 tháng 11 vào lúc 01.10 trên tàu ngầm Л-14 hạm đội thái bình dương vì chỉ có phiên gác dưới mà trong thời gian mở van (xupap) кингстон máy thì cần xupap bị rơi xuống. Qua lỗ rò được tạo ra, nước đã tràn vào hầm của khoang số 6 đến 2 tấn nước. Bằng sự bịt kín khoang và tạo ra trong khoang đối áp thì đã giảm được nước tràn vào khoang. Với sự giúp đỡ của thợ lặn thì cần xupap và van được đặt về đúng vị trí.
Theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiến (bản báo cáo tai nạn, hư hỏng, sự cố của hạm đội thái bình dương tháng 11 năm 1940) , trang 499, mục 2 [ngày 11 tháng 11 năm 1940 tàu ngầm Л-14 hải đội tàu ngầm 43 của lữ đoàn tàu ngầm số 4 hạm đội thái bình dương.
Tai nạn. Vì mở van (xupap) кингстон máy cùng với cần xupap bị rơi xuống, nước đã tràn vào hầm của khoang số 6. Sự việc xảy ra vào lúc 01.10 trên tàu chỉ có một vọng gác dưới.
Báo động khẩn cấp đã được phát ra. Tất cả các thuyền viên được thông báo. Khoang tàu đã được bịt kín, tạo ra đối áp trong khoang và lắp lại cần xupap.
Với sự giúp đỡ của thợ lặn thì cần xupap được vớt lên và lắp vào đúng vị trí, Công việc diễn ra trong 3 tiếng 15 phút. Trong hầm có 2 tấn nước đã tràn vào.
Từ sự điều tra đã chỉ ra rằng, sau khi lắp van кингстон trên đốc thì bộ phận bảo vệ trên cần xupap đã không được lắp ghép. Người mắc lỗi : trưởng ngành 5 Сахаров đã không kiểm tra bộ phận bảo vệ trên cần xupap.]
Ngày 13 tháng 11 sau 13h.45’
Д-1 Декабрист, thuyền trưởng trung úy hải quân Ельтищев Фёдор Максимович (3 tháng 11 năm 1939.) (được phê duyệt vào thực hiện chức vụ ngày 29 tháng 10 năm 1939, thực hiện nhiệm vụ từ 16 tháng 12 năm 1939 đến 13 tháng 11 năm 1940, đã chết cùng với tàu ngầm), chính trị viên Прохоренко Пётр Михайлович (được phê duyệt vào thực hiện chức vụ ngày 28 tháng 6 năm 1938, thực hiện nhiệm vụ từ 11 tháng 12 năm 1939 đến 13 tháng 11 năm 1940, đã chết cùng với tàu ngầm) .
Được biên chế trong đội hình từ ngày 19 tháng 11 năm 1930, thời gian phục vụ là gần 10 năm. Trên tàu có 55 người, ngày 11 tháng 11 năm 1940 sau 13h15’ ở vịnh Мотовск , giả định rằng, trên vùng của khu vực nhìn thấy của hạm đội canh phòng bờ biển СНиС № 113 và СНиС № 111 và trên tất cả tuyến đường đến vịnh Эйна tàu ngầm Д-1 Декабрист bị chìm cùng với tất cả kíp tàu mà không rõ nguyên nhân. Vị trí và thời gian tử nạn không được xác định, trong thảm họa có 55 người chết.
Trong năm 1931-1932 tàu Д-1 đã hoạt động trong thành phần của lữ đoàn tàu ngầm của hạm đội Baltic . Ngày 18 tháng 5 năm 1933, tàu ngầm № 21 Декабрист – một trong số 3 tàu cùng loại «Д» (Д-2 và Д-3) trong thành phần của «đội thăm dò chức năng đặc biệt» (ЭОН-1) đã đi từ Кронштадт và trong tháng 6-7 đã hoàn thành hành trình theo kênh Беломорско-Балтийский thành phố Мурманск. Ngày 05 tháng 8 năm 1933 tàu ЭОН-1 lại gia nhập thành phần hạm đội Bắc.
Từ ngày 23 tháng 9 năm 1936 đến 8 tháng 11 năm 1937 tàu ngầm Д-1 Декабрист đã thực hiện đại tu và cải biến ở nhà máy đóng tàu Baltic và nhà máy cơ khí № 189 tên С. Орджоникидзе thành phố Ленинград. Sau đó tàu lại lên đường theo kênh Беломорско-Балтийский đến phía bắc và đã gia nhập hạm đội phía Bắc.
Năm 1938 kíp tàu ngầm Д-1 thực hiện hai chuyến đi xa đến đảo Новая Земля và một chuyến đi đến đảo Медвежий.Trong thời gian 1 năm tàu đã thực hiên 120 ngày đi biển, đã đi được hơn 10000 dặm và trong số đó có lặn 1200 dặm.
Theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiến (báo cáo về tàu ngầm Декабрист СФ năm 1938) [tham mưu trưởng hạm đội Bắc trung tá Голубев. Vào lúc 06.00 ngày 21 tháng 9 năm 1938 tàu ngầm Декабрист dưới sự chỉ huy của thượng úy Августинович М. П đã đi từ Полярный trong 44 ngày đêm chạy tự động... và quay về căn cứ theo lệnh vào ngày 04 tháng 11 vào lúc 11.00.
Trên tàu có: 54 thuyền viên, 112 tấn nhiên liệu, 10 tấn dầu nhờn, 10 tấn nước ngọt. Quá trình chạy tự động diễn ra trước tháng lưu lại của tàu ở biển Trắng cùng với sự tách rời hoàn toàn khỏi căn cứ (loại trừ ba ngày đậu ở thành phố Архангельск, cần sự chỉnh sửa động cơ diesel) và sửa chữa dự phòng nhỏ bằng xưởng sửa chữa nổi Красный Горн, nhằm loại bỏ các khuyết tật lớn khi thực hiện không tốt trong quá trình đại tu tàu (23 tháng 9 năm 1936 đến 08 tháng 11 năm 1937)
Tính tự động thực tế của tàu ngầm loại «Д» phải tính trong 45 ngày đêm(45 ngày đêm là lớn nhất) khi trên tàu có 120 tấn dầu xôla , 4 tấn nước dằn (nước dằn dọc)]
Từ ngày 15 tháng 4 đến 05 tháng 9 năm 1939 (gần 5 tháng) tàu ngầm Д-1 đã thực hiện sửa chữa bảo đảm. Trong thời gian ấy tàu đã chạy được 1540 tiếng và đã vượt qua đáng kể tiêu chuẩn quy định của hạm đội tàu chiến (1200 giờ).
Theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiến [ Mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc.
Nội dung: về sự gia nhập vào đội hình của tàu ngầm Д-1.
16 tháng 9 năm 1939 №00241 thành phố Полярное.
Liệt kê tàu ngầm Д-1 vào đội hình sau khi sửa chữa bảo đảm từ ngày 05 tháng 9 năm 1939. Giấy chứng thực: bản báo cáo của chỉ huy đội tàu ngầm hạm đội Bắc №-B/52-cc từ 13 tháng 9 năm 1939.
Tư lệnh hạm đội Bắc Дрозд
Ủy viên hội đồng quân sự hạm đội Bắc chính ủy lữ đoàn Мосолов
Tham mưu trưởng hạm đội Bắc đại tá hải quân Голубев]
30 tháng 9 năm 1939 tàu ngầm Д-1 dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng trung úy Августинович đã rơi khỏi căn cứ chính Полярное để thực hiện mệnh lệnh tác chiến № 2
Theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiến (sự thống kê thảm họa, tai nạn, sự cố và hỏng hóc đội tàu ngầm hạm đội Bắc trong tháng 10 – 12 năm 1939) [ngày 26 tháng 10 năm 1939 tàu ngầm Д-1, sự cháy rụi của bộ tiêu âm động cơ diesel. Phải bịt kín khu vực cháy. Sửa chữa mất 9 ngày. Nguyên nhân - ăn mòn vật liệu. Cần phải thay ống xả ga mới.
Tham mưu trưởng đội tàu ngầm hạm đội Bắc thiếu tá Георги]
Ngày 29 tháng 10 năm 1939, đã bổ nhiệm thuyền trưởng tàu ngầm Щ-403 tàu ngầm diesel thứ 2 đội tàu ngầm hạm đội Bắc thượng úy Ельтищев làm thuyền trưởng tàu ngầm Д-1 Декабрист. Theo lệnh của hội quân ủy hải quân № 03001/п từ ngày 03 tháng 11 năm 1938 cho thượng úy Ельтищев Фёдор Максимович – phong quân hàm «đại úy hải quân». Nhưng đối với sự điều khiển tự động tàu Д-1 thì Ельтищев chưa được cho phép. Vì vậy mà cho đến trước ngày 16 tháng 12 năm 1939 ông ta đã ra khơi cùng với thuyền trưởng – thiếu úy Августинович. Ngày 16 tháng 12 năm 1939 hội đồng quân sự hạm đội Bắc đã phê chuẩn trung úy hải quân Ельтищев làm thuyền trưởng tàu ngầm Д-1 và từ bây giờ ông ta có thể tự mình điều khiển con tàu này.
Theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiến (thống kê thảm họa, tai nạn, sự cố và hỏng hóc đội tàu ngầm hạm đội Bắc trong tháng 10 – 12 năm 1939) [10 tháng 11 năm 1939 tàu ngầm Д-1. Sự chảy dầu xola vào khoang ắc quy số 3 qua đinh tán bị yếu. Các thiết bị được đưa ra. Việc sứ chữa mất 3 ngày. Nguyên nhân – đinh tán bị mòn. Khi sửa chữa cần kiểm tra toàn bộ khoang ắc quy.
10 tháng 11 năm 1939, Д-1. Bị vỡ hai tấm rẽ song. Tấm rẽ sóng trên bị gãy. Nguyên nhân – sóng lớn.
Khi bắt đầu chiến tranh Liên Xô - Phần Lan trong thời gian 11 ngày(từ 30 tháng 11 đến 10 tháng 12 năm 1937) tàu ngầm Д-1 Декабрист dưới sự chỉ huy của trung úy hải quân Ельтищев đã liên tục trong thời gian sẵn sàng, sau này được thay thế bằng bốn giờ.
Theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiến (mệnh lệnh tư lệnh hạm đội Bắc từ 07 tháng 1 đến 29 tháng 12 năm 1939) [ mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc. Nội dung: về trường hợp hỏng hóc ngư lôi trong lần bắn để chỉnh đường hướng bắn.
19 tháng 12 năm 1939 №0388Thành phố Полярное
… trên tàu ngầm Д-1 đã chạy rà hệ thống phóng lôi 53-27 và chỉ nhờ có sự ngẫu nhiên mà vẫn giữ nguyên vẹn…]
Ngày 2 tháng 1 năm 1940 tàu ngầm Д-1 Декабрист dưới sự chỉ huy trung úy hải quân Ельтищев đã ra biển Баренцево để thực hiện nhiệm vụ tuần tiễu xa trên trận địa № 2 ở vùng Нордкап.
Theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiến (bản báo cáo về hoạt động quân sự của tầu ngầm Д-1 hạm đội Bắc trong thời gian chiến tranh с белофиннами, 03 tháng 1 – 09 tháng 4 năm 1940) [ báo cho lữ trưởng tàu ngầm hạm đội Bắc trung tá Павлуцкий từ thuyền trưởng tàu ngầm Д-1 trung úy hải quân Елыпищев.
Báo cáo
Báo cáo tuân theo lệnh của thủ trưởng tôi đã được giao phó nhiệm vụ tuần tiễu trên trận địa từ 03 đến 17 tháng 1.
Từ 03 đến 17 tháng 1 tàu ngầm đã có mặt liên tục ở trận địa của mình. Trận địa để tiến hành tuần tiễu đã được lựa chọn một cách tốt nhất, bởi vì « đã có thể quan sát di chuyển của tàu chiến, cả dọc theo bờ biển và cả lối ra của các vịnh nhỏ». Trong thời gian thực hiện tuần tiễu các hướng di chuyển của các tàu chiến hay các tàu thương mại đã được nhận thấy, ngoại trừ hai chiếc xuồng máy đánh cá trên vị trí riêng của mình và bên ngoài nó. Đã có thể thực hiện nhiệm vụ trên trận địa № 2 một cách bình thường nếu như gió cấp 8 và sóng đến cấp 7 (trong tường hợp sóng mạnh hơn thì tàu phải đi ra khỏi trận địa trong tâm bão), Bởi vì trận địa đã nằm rất gần với bờ, nên theo yêu cầu trên nó đã không tương ứng .
Từ ngày 03 đến 12 tháng 1 thì thời tiết và tầm nhìn xa tốt, gió SO cấp 4-5, có một ít tuyết rơi. Từ 13 đến 17 tháng 1 gió đổi chiều cấp 5-8. Sự chuẩn bị chiến đấu của tàu Д-1 diễn ra bình thường, thực hiện các diễn tập tai nạn và luyện tập theo chuyên môn. Cùng lúc thì kíp tàu tập luyện bài tập № 2 theo tàu ngầm tuần dương-38. Trong thời gian tuần tiễu đã thưc hiện 13 lần lặn, chạy được 2800 dặm trong trạng thái lặn, 175 dặm ở trạng thái nổi, các hệ thống trên tàu làm việc bình thường, ngoại trừ bộ vi sai của khớp nối- tạo ra sự ăn khớp không tốt với bánh răng nón (côn).
Thuyền trưởng tàu ngầm Д-1 trung úy hải quân Ельтищев].
Tàu ngầm đã trở về căn cứ từ trận địa trong hai ngày 18 và 19 tháng 1. Trong các ngày từ 19 đến 21 tháng 1 khi ở căn cứ thì kíp tàu được nghỉ ngơi, sau đó trong vòng 7 ngày thực hiện sửa chữa hàng hải. Từ ngày 29 tháng 1 tàu ngầm chuyển sang 4 tiếng chuẩn bị, còn từ ngày 10 tháng 2 là một tiếng. Ngày 17 tháng 2 tàu ngầm lại đi thực hiện nhiệm vụ tuần tiễu trên vùng Вардэ . Ngày 23 tháng 2 vào lúc 02.50 đã xảy ra sự hỏng hóc chốt và răng vệ tinh của khớp nối Федорицкий – bánh lái bị hỏng. Sự khắc phục hư hỏng cần 18 tiếng. Ngày 26 tháng 2 khớp nối chữ thập Федорицкий bị hỏng, cần 6 tiếng để sửa chữa. Sau khi quay trở về căn cứ ngày 27 tháng 2, từ ngày 29 tháng 2 đến 02 tháng 3 năm 1940, để cho các thuyền viên được nghỉ nghơi, còn từ 03 đến 13 tháng 3 các thuyền viên đã thay thế bộ ắc quy tàu.
Sau khi kết thúc chiến tranh Liên Xô – Phần Lan , từ ngày 27 tháng 3 đến 7 tháng 4 tàu ngầm lại thực hiện nhiệm vụ tuần tiễu ở vùng Нордкап - Вардэ. Theo kết quả bơi đã làm sáng tỏ rằng tàu cần phải đưa lên đốc vì nguyên nhân sau:
Подводные гальюны không hoạt động được cả hai thậm chí là trong trạng thái nổi.
Bánh lái thẳng đứng bị kẹt trong trục. Vì vậy mà trong chuyến đi biển lần trước khớp nối Федорицкий hai lần bị hỏng hóc trong tổng cộng 26 tiếng.
Tấm rẽ sóng bị cong, cần phải chỉnh lại và kiểm tra .
Theo kết quả của ba lần đi biển tác chiến trong thời gian thu – đông năm 1939-1940 thì thuyền trưởng tàu ngầm Д-1 trung úy hải quân Ельтищев được trao tặng huân chương «Боевого Красного Знамени», còn chỉ huy đội động cơ kỹ thuật viên quân sự Белов và đội trưởng của đội động cơ Федотов – huân chương «Красной Звезды».
Trong phiên họp của hội đồng quân sự hạm đội Bắc ngày 17 tháng 6 năm 1940 được diễn ra dưới sự chỉ huy của chủ tịch - trung tướng Левченко, lữ trưởng lữ tàu ngầm hạm đội Bắc trung tá Павлуцкий đã cảm nhận được sự ủng hộ ngầm trên khuôn mặt của tư lệnh hạm đội Bắc chuẩn tướng hải quân Дрозд và các thành viên hội đồng quân sự hạm đội Bắc, ông ta đã tìm được dũng cảm để cáo buộc hội đồng không khách quan và thiên vị trong bước kiểm tra. Về điều này ông tuyên bố rằng chỉ dẫn của hội đồng cho ông là không bắt buộc. Trong thời gian tới sự dũng cảm đó không mang lại cho ông ta phần thưởng.
Trong chuyến ra biển, theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiến [… trên tàu ngầm ngày 21 tháng 5 đã xảy ra sự việc заполнения ЦБП và tai nạn đã được khắc phục kịp thời bằng cách thổi nước dằn bằng khí cao áp].
Theo tạp chí «ТАЙФУН» 12/2000, trang. 24[ ... 12 tháng 6 năm 1940 trên tàu ngầm Д-1 đã xảy ra несанкционированное заполнение ЦБП và sự cố được khắc phục kịp thời bằng cách thổi nước dằn bằng khí cao áp]
Theo «Спецсообщения» НКВД СССР chính ủy hải quân Liên xô tướng Кузнецов [ lần lặn cuối cùng của tàu ngầm Д-1đã diễn ra vào ngày 3 tháng 8 năm 1940, sau đó tàu được sửa chữa trong thời gian 3 tháng.]
Vào ngày 03 tháng 8 đó, chỉ huy đội tàu ngầm hạm đội Bắc trung tá Павлуцкий điều tàu ngầm Ц-1 ra cuộc tấn công kiểm tra ngư lôi theo bài tập № 13 (tấn công tàu chiến với phương di chuyển thay đổi)
Thuyền trưởng trung úy Ельтищев đã không chuẩn bị để thực hiện bài tập, vì vậy mà việc phóng ngư lôi đã bị dừng lại, tàu đã không thực hiện được bài tập và quay trở lại căn cứ.
Sự kiện thổi phồng đánh giá và sự biểu thị thiếu chuẩn bị cho việc chuyển tàu ngầm vào tuyến 1 đã diễn ra trên các tàu khác của hạm đội. Hội đồng huấn luyện quân sự hải quân trong tiến trình kiểm tra lại ngày 16-17 tháng 8 năm 1940 đã vạch ra rất nhiều các chỉ thị của hội đồng tháng 6 chưa được thực hiện. thêm vào đó, trung tá Павлуцкий đã tiếp tục vi phạm các bước chuẩn bị tàu ngầm trong đội tàu. Cùng với các điều trên thì tư lệnh hạm đội Bắc bắt buộc phải ra lệnh № 0360 từ ngày 17 tháng 9 năm 1940.
Theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiến (Những mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc. 01 tháng 1 – 31 tháng 12 năm 1940) [ mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc. Nội dung: Về sự vi phạm quy tắc tiếp nhập huấn luyện theo giáo trình chuẩn bị tác chiến.
16 tháng 9 năm 1940 №0360 thành phố Полярное
Bất chấp đã có nhiều lần cảnh báo và các chỉ thị cho các chỉ huy các đơn vị và trực thuộc, đến lúc này vẫn nhận thấy các trường hợp: a) sự đơn giản hóa tình hình và điều kiện tiếp nhận bài diễn tập của tàu và các bộ phận, b) sự giao phó chỉ huy diễn tập, trong khi chỉ huy các đơn vị phải trực tiếp chỉ huy cho cấp dưới.
Như vậy lữ trưởng lữ tàu ngầm trung tá Павлуцкий đã ra lệnh cho chỉ huy hải đội tàu ngầm số 2 trung tá Колышкин khi nhận bài huấn luyện № 8 (6-7 tháng 9): «tàu mục tiêu di chuyển với đèn bật sáng» khi đó đáng lễ tàu mục tiêu cần di chuyển mà không có đèn(КПЛ-38)
Tóm lại việc chỉ huy diễn tập № 8 đã được giao cho trung tá Колышкин, trong khi đó thuyền trưởng tàu ngầm phải chỉ đạo diễn tập theo yêu cầu của КПЛ-38.
Lưu ý đến tất cả chỉ huy đơn vị và trực thuộc không bỏ sót các trường hợp tương tự.
Yêu cầu chấm dứt việc đơn giản hóa trong việc thông qua công tác chuẩn bị tác chiến, áp dụng đúng các bước tiếp nhận bài tập và huấn luyện theo giáo trình chuẩn bị tác chiến.]
Theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiến (Mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc. 01 tháng 1- 31 tháng 12 năm 1940) [ Mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc. Nội dung:Về sự tham gia và loại trừ khỏi chiến dịch của tàu ngầm Щ-402, Щ-404 và Д-1thuộc lữ đoàn tàu ngầm hạm đội Bắc.
27 tháng 8 năm 1940 № 0306 thành phố Полярное
Các tàu ngầm Щ-402, Щ-404 tham gia vào chiến dịch được tính từ ngày 15 tháng 8 năm 1940.
2. Loại tàu ngầm Д-1 ra khỏi chiến dịch, nó sẽ được đưa vào sửa chữa từ ngày 5 tháng 8 năm 1940.
Chứng nhận: Báo cáo của chỉ huy đội tàu ngầm hạm đội Bắc № 1036 từ 16 tháng 8 năm 1940.
Tư lệnh hạm đội Bắc thiếu tướng Головко
Ủy viên hội đồng quân sự hạm đội Bắc chính ủy Николаев
Ham mưu trưởng hạm đội Bắc thiếu tướng Кучеров]
Theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiến (Mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc. 01 tháng 1- 31 tháng 12 năm 1940) [Mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc. Nội dung: về sự thi hành kỷ luật đối với kỹ sư trưởng 2-го отделения Техотдела СФ, kỹ sư thiếu tá Филлипов П. А. vì không kịp thời xuất trình bản thống kê sửa chữa tàu ngầm Д-1 lên xưởng sửa chữa nổi Красный Горн.
29 tháng 8 năm 1940 № 0321 thành phố Полярное
Tàu ngầm Д-1 cần được đưa vào kế hoạch sửa chữa ngày 15 tháng 8 năm 1940. Bản thống kê sửa chữa đã được trình lên cho đội sửa chữa ở Техотдел СФ kịp thời (06 tháng 7) tức là trước 2 tháng trước ngày bắt đầu sửa chữa.
Người nhận bản kê khai hư hỏng - kỹ sư trưởng 2-го отделения Техотдела СФ, kỹ sư thiếu tá Филлипов П. А. Mãi đến ngày 30 tháng 7 mới chuyển chúng lên cho xưởng sửa chữa nổi Красный Горн để thực hiện việc tính toán. Những tính toán cuối cùng được hoàn thành vào ngày 06 tháng 8, bản thống kê sửa chữa được chuyển tới Техотдел СФ để hoàn tất phê duyệt và lập bản thi công cho công việc sửa chữa.
Cần biết chi tiết rằng tàu ngầm Д-1 bắt đầu được sửa chữa ngày 15 tháng 8, để chuẩn bị và bao hàm đầy đủ công việc thì xưởng sửa chữa nổi Красный Горн cần 3 đến 5 ngày, nhưng Филлипов đã giữ bản thống kê sửa chữa ở Техотдел СФ đến 14 tháng 8 năm 1940.
Bản thống kê sửa chữa được nhận trên xưởng sửa chữa Красный Горн vào ngày 17 tháng 8, tức là vào ngày đưa tàu ngầm Д- 1 vào sửa chữa. như vậy, từ hệ quả của việc không kịp thời đưa bản thống kê sửa chữa và lập bản thi công cho công việc sửa chữa tàu ngầm Д- 1, xưởng sửa chữa Красный Горн đã không thể trong thời gian 5 ngày (từ 17 đến 21 tháng 8) bắt đầu vào sửa chữa.
Vì sự lưu giữ trái phép bản thống kê sửa chữa tàu ngầm Д- 1 và chậm trễ đưa chúng cho xưởng sửa chữa nổi Красный Горн thì Филлипов bị khiển trách nghiêm khắc.
Tư lệnh hạm đội Bắc thiếu tướng Головко
Ủy viên hội đồng quân sự hạm đội Bắc chính ủy Николаев
Tham mưu trưởng hạm đội Bắc thiếu tướng Кучеров]
Ngày 17 tháng 8 tàu ngầm Д- 1 được đưa lên boong của xưởng sửa chữa nổi Красный Горн, và trải qua gần 2 tháng sửa chữa ở đây. Trên thực tế vì lỗi của Техотдела СФ công việc sửa chữa chỉ được bắt đầu vào ngày 22 tháng 8.
Theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiến [từ ngày 22 tháng 8 đến 10 tháng 10 tàu ngầm được sửa chữa trên xưởng sửa chữa nổi «Кр. Горн», sửa chữa van thông gió của các khoang, nắp khoang, máy nén khí cao áp, máy bơm của hầm và động cơ diesel]
Nếu như tàu ngầm Д- 1 được sửa chữa trên xưởng sửa chữa nổi Красный Горн chứ không phải trên đốc thì không thể sửa chữa được van кингстон và những lỗ hở ngoài mạn, đây chỉ là sửa chữa thường kỳ thông thường, thực hiện bằng lực lượng thuyền viên tàu ngầm cùng với các chuyên viên của xưởng sửa chữa nổi, trong thời gian đó thuyền trưởng tàu ngầm Ельтищев và trưởng ngành 5 Степанов Константин Васильевич coi rằng có thể đi kì nghỉ phép, còn Ельтищев được thay thế hoàn toàn bằng trợ lý thứ nhất của thuyền trưởng – thượng úy Галаган.
Theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiến (Mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc. 10 tháng 10 – 31 tháng 12 năm 1940) [Mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc. Nội dung: Về sự tặng thưởng thành viên tàu ngầm Д- 1
13 tháng 10 năm 1940 № 0403 thành phố Полярное.
Vì sự hoàn thành định mức sản xuất và hoàn thành trước thời hạn sửa chữa, khen thưởng đối với các thành viên kíp tàu ngầm Д-1sau:
Врид. командира ПЛ thượng úy Галаган……….. 500p.
Зам. командира ПЛ chính trị viên Прохоренко……500p.
Đội trưởng đội phóng lôi trung úy Чернокнижный… 300p.
Chuẩn úy đội động cơ Федотов…..250p.
Chuẩn úy đội kỹ thuật điện Потапов250 р.
Chuẩn úy đội hầm tàu Гашпор250 р.
Đội trưởng thủy thủ Арбузов250 р.
đội trưởng hầm tàu Зенин………………………175p.
đội trưởng hầm tàu Голубев ………………………175p.
Đội trưởng nhân viên điện Рогалёв175 р.
Chuyên viên trưởng nhân viên máy Воранов125 р.
Chuyên viên trưởng nhân viên máy Баронов125 р.
Chuyên viên trưởng nhân viên máy Овоев125 р.
Chuyên viên trưởng nhân viên điện Волков125 р.
Chuyên viên trưởng nhân viên điện Смирнов125 р.
Học viên hầm tàu Теращенко……………………………25p.
Học viên thợ điện Васильев…………………………….25p.]
Các thành viên kíp tàu ngầm Д-1: đội trưởng nhân viên điện Рогалёв, Chuyên viên trưởng nhân viên máy Воранов, Баронов và Овоев, các chuyên viên động cơ Соловьёв, Оболенцев và Аравин, nhân viên điện Неклодов đã không tham gia vào chuyến đi biển cuối cùng của tàu ngầm đến vịnh Мотовский vào ngày 13 tháng 11. Trong thời gian này thì thành phần kíp tàu được điều thêm 13 học viên: những người lính hồng quân của đợt nhập ngũ mới – dường như là nhiều nhưng như vậy là bình thường cho việc thực hành huấn luyện. Ngoài ra trợ lý mới của thuyền trưởng thượng úy Грачёв đã đến đội tàu ngầm và tàu 10 ngày trước chuyến đi biển cuối cùng.
Theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiến ф. р-970, оп. 2, д. 170, л. 71 [ Mệnh lệnh của hạm đội Bắc. Nội dung: về sự tham gia vào chiến dịch của tàu ngầm Д-1thuộc lữ đoàn tàu ngầm hạm đội Bắc.
25 tháng 10 năm 1940 №0432 thành phố Полярное
Từ ngày 15 tháng 10 năm 1940 tàu ngầm Д-1 đã hoàn thành việc sửa chữa định kỳ và được đưa vào tham gia chiến dịch.
Nội dung: bản báo cáo của lữu trưởng tàu ngầm hạm đội Bắc № 1284 từ ngày 21 tháng 10 năm 1940.
Tư lệnh hạm đội Bắc thiếu tướng Головко
Ủy viên hội đồng quân sự hạm đội Bắc ủy viên Николаев
Tham mưu trưởng hạm đội Bắc thiếu tướng Кучеров].
Ngày 22 tháng 10 trong quá trình tham gia chiến dịch (từ ngày 15 tháng 10) tàu ngầm Д-1 đã thực hiện thử nghiệm hệ thống máy, lặn thử nghiệm. Trong thời gian đi biển đó thì thuyền trưởng biên chế và trưởng ngành 5 Степанов đã không có mặt – họ vẫn còn trong kỳ nghỉ phép, vì vậy được bằng thuyền trưởng nhiều kinh nghiệm của tàu ngầm Д-3 thượng úy Котельниковый và bằng kỹ sư cơ khí. Ngoài ra trên tàu còn có chỉ huy hải đội tàu ngầm, thuộc lữ đoàn tàu ngầm, hạm đội Bắc thiếu tá Гаджиев.
1 tháng 11 tàu ngầm Д-1 thực hiện chuyến đi biển đến vịnh Кольский (dưới sự chỉ huy của ai thì không rõ nhưng đó có thể là Котельников hoặc Августинович, những người có giấp phép về điều khiển tự động tàu ngầm loại «Д») để xác định và khử độ lệch la bàn nam châm.
Theo lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc № 0448 được công bố từ ngày 06 tháng 11 năm 1940, tàu ngầm Д-1 đã vô địch trong lữ đoàn tàu ngầm, hạm đội Bắc về trưởng ngành 4 giỏi nhất. Trong ngày ấy thì tàu ngầm đã đi đến vũng tàu Мурманский để tham gia vào lễ kỷ niệm lần thứ 23 cách mạng tháng 10. Sau khi quay về căn cứ Полярное, ngày 12 tháng 11 hội đồng hạm đội Bắc đã kiểm tra tàu ngầm Д-1 và theo tình trạng kỹ thuật được nhận định rằng tốt.
Theo ý kiến của một số tác giả về sự nguy hiểm mức độ cao, tàu ngầm Д-1 sau 2 tháng sửa chữa được tiến hành trong sự vắng mặt của thuyền trưởng và trưởng ngành 5 và không có sự kiểm tra đầy đủ tất cả các hệ thống lặn – nổi, độ đảm bảo tính chống thấm nước của thân vỏ tàu và két dằn chính, đã đưa ngay ra diển tập trên thao trường với độ sâu hơn 200m, являются вполне обоснованными
Thực tế đã chứng minh rằng chính ngay sau khi tiến hành sửa chữa trên tàu thường hay xảy ra sự cố hơn cả, cho dù chúng được kiểm tra tương ứng bằng các chuyên viên thành thạo và hội đồng tham mưu kỹ thuật của hải đội và hạm đội. Trong nguyên tắc, mỗi lần lặn của tàu ngầm gắn với một mức độ nguy hiểm nhất định – đây là một đặc trưng của lặn ngầm và chúng ta cũng không thể thay đổi được đặc tính này. Nhưng ở đây rõ ràng họ đã vội vàng, cần phải cho kíp tàu sau khi nghỉ nghơi hồi phục lại cơ thể trên thao trường với độ sâu nhỏ hơn độ sâu lặn làm việc, nhưng những khu vực với độ sâu này chỉ có ở biển trắng.
Ngày 13 tháng 11 tàu ngầm Д-1 lập kế hoạch đi ra vịnh Мотовской trên thao trường № 6 để chuẩn bị trả kiểm tra theo bài tập № 2д КПЛ-38, sau đó nó tiếp tục đi đến vũng Эйна để gặp с ПБ бригады ПЛ Умба. Ngày 14 tháng 11 việc khởi hành tương thích được dự định, trong thời gian này trên ПБ Умба cần có mặt chỉ huy đội tàu ngầm hạm đội Bắc trung tá Павлуцкий, còn trên tàu ngầm là thuyền trưởng tàu ngầm diesel số 1 thiếu tá Гаджиев và kỹ sư cơ khí của hải đoàn.
Nếu quan sát trên bản đồ biển Баренцев thì bên trái lối ra vịnh Кольский thẳng ra mũi Погань-Наволок theo hướng tây nam bắt đầu vịnh Мотовской. Trên cửa vào theo đường: mũi Баргоутный – mũi Погань – vịnh Наволок với chiều rộng gần 16 dặm biển (gần 30 km) với chiều dài trung bình 45km theo bờ biển phía bắc và 60 km theo bở biển phía nam, sau đó thu hẹp lại đột ngột đến 10 dặm (18,5 km) theo đường: mũi Шарапов – mũi Выев - Наволок. Phần tương đối rộng của nó kết thúc theo đường: vũng Эйна – mũi Шарапов. Ở đây vịnh là hẻm núi với chiều rộng 6-8 dặm (11-15km) với độ sâu 200-260m. Từ đường: mũi Шарапов – mũi Выев – Наволок đến kinh tuyến 32000’ WA là phần tương đối hẹp (gần 3-6 dặm) nhưng với độ sâu đến 190m.
Ở phần phía đông vịnh Мотовской có triển khai thao trường № 6. Theo báo «На страже Заполярья», 1990, 04 tháng 3 (bản đồ № 942), trang 6,7 [… tọa độ của thao trường № 6: 69 ° 33'02 " NL / 32 ° 47'02 " WA , 69 ° 33'02 " NL / 33 ° 00'00 " WA , 69 ° 30'00 " NL / 33 ° 00'00 " WA , 69 ° 30'00 " NL / 32 ° 51’02 " WA , 69 ° 30'07 " NL / 32 ° 47'02 " WA ] thao trường № 6 kéo dài từ phía tây sang đông có hình chữ nhật với độ sâu hơn 200m và kích thước 4,7 dặm (8,6km) x 3,1 dặm (5,8km), tổng diện tích hơn 14 dặm vuông (gần 50 km2). Phía tây của nó có thao trường № 5.
Cũng trong thời gian này vịnh Мотовский quá nhỏ để thực hiện chuẩn bị tác chiến thậm chí đối với một lượng không lớn thuyền chiến của hạm đội Bắc trong thời gian ấy và cần phải tuân thủ nghiêm ngặt chương trình và chế độ chuẩn bị tác chiến. Một trong những khuyết điểm đó là cần đường cơ động vào thao trường № 5 thông qua thao trường № 6. Trên vịnh Мотовский ngày 09 tháng 5 năm 1940 ở thao trường № 8 đã có nơi va chạm giữa tàu khu trục Сокрушительный với tàu ngầm М-171.
Ngày 13 tháng 11 năm 1940 vào lúc 08.55, theo tài liệu khác thì vào lúc 08.58 tàu ngầm Д-1 dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng trung úy Ельтищева đã rời khỏi căn cứ chính Полярное và đi đến vịnh Мотовской thao trường № 6 ở trạng thái nổi. Theo tính toán thì khoảng cách là gần 30,6 dặm (gần 57 km) đến điểm lặn với tọa độ 69°33'25" NL / 32°58'50" WA, nơi mà vào lúc 13.45 trạm dịch vụ quan sát và kết nối № 111 (trên mũi Шарапов ) lần cuối cùng nhìn thấy tàu ngầm Д-1 dưới kính tiềm vọng theo góc phương vị 1600 ở khoảng cách 17 cabentôp (gần 3000m) theo hướng đông – nam, tàu ngầm đi trong khoảng thời gian gần 5 tiếng, cách vũng Эйна 13 dặm (gần 24 km), nơi mà ПБ Умба cần phải đến lúc 19.00 cùng lữ trưởng tàu ngầm trung tá Павлуцкий và thuyền trưởng tàu ngầm diesel 1 thuộc đội tàu ngầm hạm đội Bắc thiếu tá Гаджиевый trên tàu.
Theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiến ( Bản báo cáo cho chính phủ về những tai nạn bất thường từ 01 tháng 1 – 31 tháng 12 năm 1940)
[ 14 tháng 11 năm 1940 №4543сс thành phố Mascova
Báo cáo: ngày 13 tháng 11 năm 1940 ở vịnh Мотовской đội tàu ngầm hạm đội Bắc dưới sự chỉ huy của lữ trưởng tàu ngầm có mặt ở tàu Умба tiến hành theo kế hoạch chuẩn bị tác chiến.
Tàu ngầm Д-1 thực hiện bài tập dưới nước về lặn khẩn cấp và подныривание, đến thời điểm ấn định đã không nổi lên và đã không đi đến vũng Эйна, nơi mà cần phải đi đến theo cuối bài tập. Đã không thu được trả lời từ các cuộc gọi radio.
Dưới sự chỉ huy của tư lệnh hạm đội thiếu tướng Головко đã tổ chức cuộc tìm kiếm tàu ngầm bằng các tàu nổi.
Tàu đã không được phát hiện nhưng trên khu vực thực hành huấn luyện đã phát hiện ra vết dầu, phao cứu đắm, các mảnh vụn gỗ và đi đến kết luận rằng tàu ngầm đã bị nạn ở vị trí đó. Sự đâm va với một tàu nào đó được loại trừ.
Các nguyên nhân có thể dẫn đến thảm họa cho tàu ngầm có thể là do tàu đã lặn đến độ sâu vượt quá độ vững chắc giới hạn của tàu, khi thực hiện huấn luyện по подныриванию có thể đã xảy ra lỗi điều khiển lặn sâu, hoặc đã bỏ qua việc đóng kín ( các cửa nắp…) tàu ngầm khi thực hiện huấn luyện lặn khẩn cấp.
Độ sâu trong khu vực này là khoảng 250m đến 290m, trong trường hợp bắt buộc lặn đến độ sâu lớn thì tàu có thể bị nghiền nát.
Tàu ngầm Д-1 có các thuyền viên kinh nghiệm theo trình độ huấn luyện thực hiện lặn. Điều kiện thời tiết cũng thuận lợi cho việc huấn luyện.
Chính ủy hải quân Xô Viết tướng Кузнецов]
Theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiến ( Bản báo cáo về tai nạn của tàu ngầm Д-1 và các phương án đặc biệt để tìm kiếm nó. Bắt đầu ngày 18 tháng 11, kết thúc ngày 21 tháng 11 năm 1940. Trong 20 trang), trang 1-4 [ cho chính ủy hải quân Liên Xô tướng Кузнецов
18 tháng 11 năm 1940 №58сс thành phố Полярный
Bản báo cáo về tai nạn tàu ngầm Д-1 ngày 13 tháng 11 năm 1940
Ngày 13 tháng 11 vào lúc 08.58 tàu ngầm Д-1 dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng tàu ngầm trung úy hải quân Ельтищев đã rời căn cứ chính đến vịnh Мотовской (thao trường № 6) để thực hành huấn luyện và chuẩn bị cho việc trả bài tập № 2д КПЛ-38 (подныривание). Thuyền trưởng tàu ngầm tuân theo lệnh của lữ trưởng tàu ngầm từ 13.00 đến 15.00 phải kiểm tra và lập bảng подныриваяия. Sau khi thực hiện bài huấn luyện trên, tàu ngầm Д-1cần phải đi đến vũng Эйна để gặp tàu huấn luyện «Умба».
Ngày 13 tháng 11 намечался совместный выход ПЛД-1 с УК «Умба» để thực hiện bài tập № 2д, hơn nữa trên tàu huấn luyện «Умба» cần phải có lữ trưởng lữ tàu ngầm, còn trên tàu ngầm Д-1 là kỹ sư cơ khí lữ đoàn. Sau bước kiểm ra sơ bộ và trong trường hợp chuẩn bị tốt tàu ngầm Д-1 к сдаче зачёта предполагалось и приёмка зачёта (поучению № 2д) с фактическим подныриванием ПЛ Д-1 под УК «Умба».
Tất cả hành trình của tàu ngầm Д-1 từ Полярный đến thao trường № 6 được quan sát bởi trạm dịch vụ quan sát và kết nối. Vào lúc 13.17 trạm dịch vụ quan sát và kết nối № 113 (trên mũi Шарапов) đã quan sát thấy rằng tàu ngầm Д-1 đã lặn dưới buồng lái theo góc phương vị 3300 trong khoảng cách 60 capentôp ( gần 11km ) theo hướng tây.
Vào lúc 13.30 trạm này đã quan sát thấy rằng tàu ngầm Д-1 hạ kính tiềm vọng theo góc phương vị 3350 trong khoảng cách 70 capentôp (gần 13 km) hướng tây. Vào lúc 13.45 trạm dịch vụ quan sát và kết nối № 111 (trên mũi Шарапов) nhìn thấy tàu ngầm hạ kính tiềm vọng theo góc phương vị 1600 trong khoảng cách 17 capentôp (gần 3 km) hướng đông – tây. Kể từ thời điểm đó các trạm đã không còn phát hiên thấy tàu ngầm Д-1 nữa. Tín hiệu về lặn của tàu ngầm Д-1đã nhận được lúc 13.30.
Vào lúc 14.00 lữ trưởng tàu ngầm trên tàu huấn luyện «Умба» đã rời khỏi Полярный và vào lúc 19.00 đã đi dến vũng Эйна, nơi mà tàu ngầm Д-1đã không được phát hiện ra.
Lữ trưởng lữ tàu ngầm đã hỏi tham mưu trưởng của mình (thiếu tá Августинович) về vị trí phát hiện tàu ngầm Д-1 ở Полярный, và đã thu được trả lời gì từ tàu ngầm Д-1 vào lúc 13.30 sau khi truyền cho nó tín hiệu lặn nhưng không có tin tức gì. Không có báo cáo về tàu ngầm đến 18.00. tham mưu trưởng lữ đoàn ngầm đã hỏi qua radio ( tàu ngầm Д-1) chỉ vị trí của mình. Cùng lúc đã hỏi các trạm dịch vụ quan sát và kết nối về tàu ngầm Д-1 cho trực ban tác chiến bộ tham mưu hạm đội Bắc. Tất cả các câu hỏi cho tàu ngầm đã không được trả lời.
(Sau đó vào lúc 18.40 tàu ngầm Д-1 đã không trả lời cuộc gọi của РТС ở Полярный, điện báo cho nó đã lặp đi lặp lại vài lần đến 22.22)
Vào lúc 23.15 tham mưu trưởng của hạm đội Bắc (thiếu tướng Кучеров) đã gọi khẩn cấp qua radio cho tàu ngầm Д-1chỉ vị trí của mình, và đã truyền lệnh cho các tàu trên biển (có tàu K-1, K-2 và M-171 ở gần đó) và cho các trạm phục vụ quan sát và kết nối gọi cho tàu ngầm. Để nghe tàu ngầm Д-1 thì tàu ngầm K-2 đã được điều từ vũng Эйна ra thao trường № 6.
Một lúc sau đó (vào lúc 23.40) thì lữ trưởng lữ đoàn tàu ngầm đã đi lên tàu huấn luyện «Умба» từ vũng Эйна đến thao trường № 6 để khám xét.
Vào lúc 01.20 (ngày 14 tháng 11) đã điều 2 xuồng máy để khám xét thao trường № 6 và ven bờ vịnh Мотовский.
Vào lúc 01.44 cũng vì mục đích trên các thiết bị cứu hộ СКР «Туман» đã được điều đến.
Vào lúc 02.22 tư lệnh hạm đội Bắc trung tướng Головко đã ra vịnh Мотовской để làm sáng tỏ tình hình và tìm kiếm tàu ngầm Д-1, (sau 2 tiếng tìm kiếm Д-1 thì tàu ngầm Щ-402 đã được điều đến và sau 3 tiếng kế tiếp thì tàu ngầm Д-3 được điều đến). Trong các buổi tối ngày 13 và 14 tháng 11 các tàu М «Стремительный», tàu ngầm K-1, tàu huấn luyện «Умба», các xuồng máy MO và tàu СКР «Туман» đã tìm kiếm trên vịnh Мотовский, thực hiện rọi sáng biển và lắng nghe bằng thiết bị dò hướng âm trên tàu ngầm K-1.
Vào lúc 10.30 ngày 14 tháng 11 để khám xét vịnh Мотовский đã điều thêm 2 máy bay МБР-2. Vào lúc rạng sang các tàu lại tiếp tục tìm kiếm trên vịnh Мотовский. Vào lúc gần 10.00 trên khu vực mũi đất Шарапов đã phát hiện ra các vệt dầu, phao cứu hộ, nhiều mảnh gỗ.
Độ sâu tại vị trí 105, 115, 120 xa-giên (từ 190 đến 216m).
Đồng thời với tìm kiếm tàu ngầm Д-1, các tàu quét mìn và các thiết bị cứu hộ cứu nạn của hạm đội đã được chuẩn bị. Đến 14.00 ngày 14 tháng 11 trên vịnh Мотовский ngoài các thiết bị trên vào còn có tàu ТГЦ № 890 и ТЩ №891 và bắt đầu rà quét khu vực đã phát hiện ra vết dầu. Ngoài ra đến cuối ngày 14 tháng 11 đã điều đến tàu ТГЦ «Торос», «Штиль», РТ-80 và РТ-69 để quan trắc khu vực tìm kiếm.
Trong thời gian từ ngày 14 đến 18 tháng 11 trên khu vực thao trường №6 bằng các tàu quét mìn đã phát hiện ra các vệt dầu đặc, các mảnh vụn khác nhau của tàu ngầm Д-1 và các máy quan trắc đã có задевание. Tại vị trí задевания đã phát hiện ra một lượng lớn kim loại bằng máy dò kim loại.
Vị trí kể trên sẽ được kiểm tra bằng các thiết bị ngầm dưới nước.
Kết quả sau 5 ngày tìm kiếm thao trường № 6 đã khẳng định chắc chắn tai nạn của tàu ngầm Д-1. Nguyên nhân tai nạn của tàu ngầm đến tận bây giờ vẫn không được làm sáng tỏ.
Các nguyên nhân nào dẫn đến thảm họa cho tàu ngầm Д-1.
Trên biển Баренцев lúc ấy có mìn trôi bị bão giật đứt ở Варангер-фиорд và thỉnh thoảng bị dòng biển cuốn đến vịnh Мотовский.
Mìn được phát hiện trên vịnh Мотовский và theo quy định phải bắn đi. Ngoài ra việc nổ mìn có thể được các trạm quan sát và kết nối ở mũi Шарапов nhìn thấy. Đồng thời có thể nhìn thấy và nghe thấy mìn nổ bởi tàu khu trục «Гремящий» và «Стремительный» có mặt tại thời điểm đó trên thao trường № 5.
Va chạm giữa tàu ngầm và các tàu bị loại bỏ. Trên thao trường № 6 đến 12.43 có tàu khu trục «Гремящий» và «Стремительный», trước khi những tàu này đến đó thì tàu ngầm Д-1đã di chuyển sang thao trường № 5.
Các tàu thương mại trong ngày đó theo quan sát của các trạm và tàu chiến trên vịnh Мотовский không đi qua.
Có thể bỏ qua các lỗi của các thuyền viên tàu ngầm và thuyền trưởng khi điều khiển tàu dưới nước gây ra cho tàu mất tính nổi hoặc lặn xuống độ sâu vượt quá giới hạn lặn.
Nói vậy cũng có thể loại bỏ nguyên nhân này dẫn đến tai nạn cho tàu ngầm bởi vì tàu ngầm đã đi tất cả hành trình bài tập tuyến 2 và đã chuẩn bị chuyển sang tuyến 1. Tất cả các thành viên tàu đều có thâm niên và các chuẩn úy tái ngũ cũng có thâm niên.
Các thành viên tàu đều thực hiện tốt việc thử nghiệm tàu sau khi sửa chữa.
Họ là một trong số tốt nhất ở hạm đội Bắc về chuẩn bị tàu ngầm hoàn chỉnh.
Trình độ chuẩn bị tác chiến cao của tàu ngầm Д-1 được tính đến đã loại bỏ khả năng va chạm với tàu nổi và các vật tương tự trên khu vực gặp nạn, có thể giả thuyết rằng nguyên nhân gặp nạn là do sự nổ bên trong tàu, hơn nữa để có thể xác định chính xác thì chỉ có sau khi kiểm tra và vớt tàu lên từ đáy biển.
Để tiếp tục việc lý giải nguyên nhân tai nạn tàu ngầm dự kiến đến ngày 22 tháng 11 sẽ thực hiện rà quét bằng các thiết bị tìm kiếm và điều tra bằng các thiết bị lặn sâu.
Phụ lục:
1/ Калька курсов маневрирования кораблей СФ 13 ноября 1940 г
2/ Danh sách thuyền viên tàu ngầm Д-1
3/Cách phương pháp để tìm kiếm tàu ngầm Д-1
4/ Báo cáo về mìn trôi trên vịnh Мотовский с калькой
5/ Danh sách nhiệm vụ sẵn sàng tác chiến mà tàu ngầm Д-1 cần hoang thành trong năm 1940.
6/ Biên bản các tang vật chứng.
Tư lệnh hạm đội thiếu tướng Головко
Thành viên hội đồng quân sự hạm đội Bắc ủy viên lữ đoàn Николаев]
Trang 6,7 [ danh sách thuyền viên tàu ngầm Д-1
Thuyền trưởng trung úy hải quân Елътищев Фёдор Максимович – từ ngày 29 tháng 10 năm 1939 – 1 năm (được phép điều khiển tự động tàu ngầm từ 16 tháng 12)
ủy viên quân sự chính trị viên Прохоренко Пётр Михайлович – từ 28 tháng 6 năm 1938 – 1 năm 5 tháng.
Trợ lý thuyền trưởng thượng úy Грачёв Иван Иванович – từ ngày 03 tháng 11 năm 1940 – 10 ngày
Trưởng ngành 1-4 (hoa tiêu) thượng úy Вихман Матвей Абрамович – từ ngày 08 tháng 7 năm 1939 – 1 năm 4 tháng.
5. Chỉ huy đội phóng lôi trung úy Чернокнижный Пётр Лукич – từ ngày 03 tháng 8 năm 1940 – 3 tháng
……
55. Học viên hoa tiêu - thợ điện Шагурин Евгений Константинович – từ 25 tháng 10 năm 1940 - 19 ngày.]
Trang 9 [ danh sách các biện pháp tìm kiếm tàu ngầm Д-1
Ngày 13 tháng 11
18.40 tàu ngầm Д-1 đã không trả lời cuộc gọi từ Полярное.
18.40 đến 22.22 bức điện tín cho tàu ngầm Д-1 đã lặp đi lặp lại một vài lần.
22.22 РТС Полярное bắt đầu các cuộc gọi cho tàu ngầm Д-1 bằng các tín hiệu gọi của nó
23.00 đến 08.00 ngày 14 tháng 11 tàu ngầm K-2 thực hiện tìm kiếm tàu ngầm Д-1trên thao trường № 6.
23.40 tàu huấn luyện « Умба» đã rời khỏi vũng Эйна đến thao trường № 6.
1.00 Ngày 14 tháng 11 thiết bị thăm dò ngầm chức năng đặc biệt ЭПРОН đã được chuẩn bị nhanh chóng.
1.20 xuồng cao tốc MO № 17 và 18 đã rời khỏi vũng đến thao trường № 6 và dọc theo bờ biển vịnh Мотовский để tìm kiếm
1.44 tàu tuần tiễu «Туман» rời khỏi vũng đến thao trường № 6
2.22 ВС М «Стремительный» đã rời khỏi vũng đến thao trường № 6 cùng với tư lệnh hạm đội Bắc
4.48 tàu ngầm Щ-402 đã rời khỏi vũng đến thao trường № 6
7.30 tàu ngầm Д-3 đã rời khỏi vũng đến thao trường № 6
8.05 tàu tuần tiễu Прилив đã thả neo trên thao trường № 6 tại điểm có tọa độ 69°33 ”4 NL / 32°53”0 WA
10.26 tàu quét mìn № 890 đã rời khỏi vũng đến thao trường № 6 để rà quét
10.30 hai máy bay МБР-2 đã bay để khám xét vịnh Мотовский và bờ biển
11.00 РТС Полярное đã dừng các cuộc gọi cho tàu ngầm Д-1 qua radio
Ngày 13 tháng 11
1.00 tàu tuần tiễu «Торос» đã rời khỏi vũng đến thao trường № 6 cùng với máy dò kim loại.
05.25 tàu tuần tiễu «Штиль» đã rời khỏi vũng đến thao trường № 6
7.45 xuồng cao tốc MO 11, 14, 17 và 18 đã rời khỏi vũng đến thao trường № 6 để khám xét dọc bờ biển
10.35 М «В. Куйбышев» đã rời khỏi vũng đến thao trường № 6
11.07 РТ-80 và РТ-69 đã rời khỏi vũng đến thao trường № 6 để rà soát bằng lưới quét
Tham mưu trưởng hạm đội Bắc thiếu tướng Кучеров]
Trang . 10 [Báo cáo về mìn trôi trên vịnh Мотовский.
Từ ngày 8 tháng 2 đến 15 tháng 11 năm 1940 đã phát hiện 11 quả mìn trôi trên khu vực thuộc vịnh Мотовский – lạch Кильдинский theo đường: mũi Цып-Наволок – phía tây Кильдия. Một trong số chúng đã được phát hiện trên bờ mũi Лог-Наволок, một được phát hiện và được bắn bởi tàu tuần tiễu «Торос», khi tìm hai quả khác đã phát hiện thấy những phao cứ sinh, những quả khác đã không được tìm thấy. Quả mìn cuối cùng được tìm thấy ngày 15 tháng 11 năm 1940 trên khu vực mũi Ура (69°45'18" NL / 33°10'30" WA), tàu tuần tiễu 304 đã phát hiện và bắn nó nhưng đã không nổ. Cuối ngày 17 tháng 10 năm 1940 đã phát hiện ra М. К. Либкнехт trên vũng Ура, tất cả vũng được rà soát, đó là phao tiêu và được đưa lên bờ.]
Trang. 12 [ danh sách các bài tập chuẩn bị tác chiến cần hoàn thành của tàu ngầm Д-1 trong năm 1940.
Trong giai đoạn từ ngày 12 tháng 12 năm 1939 đến 20 tháng 7 năm 1940 thành viên kíp tàu tàu ngầm Д-1đã thực hiện và trả 13 bài tập huấn luyện theo КПЛ-38, trong đó có 2 bài được điểm xuất sắc, một đạt và còn lại là giỏi. Vẫn còn 3 bài tập đã được thực hành nhưng chưa được trả.
17 tháng 11 năm 1940 chỉ huy hải đội số 1 trung tá Гаджиев]
trang 16, 17 [Biên bản thu hồi các tang vật chứng.
Năm 1940 tháng 11, 17 ngày thành phố Полярное
Dự thẩm viên quân sự của viện kiểm sát quân sự hạm đội Bắc - luật sư quân sự Писклов theo lệnh trưởng phòng đặc biệt của bộ dân ủy nội vụ có mặt :
1) thư ký члена ВС chính trị viên Марков, 2) kỹ sư cơ khí của bộ tham mưu hạm đội thiếu tá Слинько, 3) dự thẩm phòng đặc biệt của bộ dân ủy nội vụ trung sĩ Евсеев đã thu hồi lưu trữ của bộ tham mưu hạm đội Bắc những tang vật chứng của thảm họa tàu ngầm Д-1thuộc hạm đội Bắc.
Đã có tất cả 18 tang vật chứng được xác định:
Chất lỏng ở vị trí tai nạn với số lượng 1 thùng và 1 bình, theo bề ngoài là dầu xola.
Một mảnh của phao cứu sinh với màu sơn đỏ và trắng (một nửa phao), phía đuôi bị gãy.
Một phao cứu sinh nguyên vẹn với màu sơn đỏ và trắng
Hai mảnh tấm gỗ ép hình dạng bất thường
Một cái nêm bằng gỗ thông được sơn lớp sơn đen chống ôxit.
Một gói băng cấp cứu để sơ cứu với chữ tiếng nga.
Một chi tiết gỗ thông từ cái cửa con được sơn màu cỏ úa
Một miếng gỗ thông bị gãy hai đầu và được sơn sơn chống ôxit
Một miếng gỗ thông bị gãy một đầu và có chữ «П», được phủ lớp sơn chống ôxit ,có lấm tấm bốn mảnh chì
Một bàn chải với tay cầm gỗ, tay cầm được sơn màu quả bóng.
Một mảnh của sào chống bị gẫy cả hai đầu
Một tay cầm của cái xẻng
Một tấm ván nhỏ, bị gãy một đầu, được sơn một mặt
Một tấm ván nhỏ với một mặt phẳng được sơn màu xanh, mặt còn lại được sơn chống ôxit
Một mảnh của dầm đỡ mạn của tàu ngàm lớp «Д».
6 mảnh vỡ được sơn minium – theo hình dáng ngoài là thanh chống từ các tầm vách ngăn các khoang.
2 mảnh vỡ được sơn minium – theo hình dáng ngoài là thanh chống từ các tấm vách ngăn các khoang.
7 vỏ bào thông nhỏ].
Theo cơ quan lưu trữ liên bang nga về hạm đội tàu chiến [Báo cáo đặc biệt của bộ dân ủy nội vụ Xô Viết cho chính ủy hải quân Xô Viết tướng Кузнецов
25 tháng 11 năm 1940 №00627 thành phố Mascova
Trong kết quả điều tra nguyên nhân tai nạn tàu ngầm Д-1 thuộc hạm đội Bắc đã được xác định thêm:
Ngày 13 tháng 11 vào lúc 08 giờ 55 phút tàu ngầm đã rời căn cứ hạm đội (Полярное) đi theo hướng về khu vực vịnh Мотовский để thực hiện bài tập huấn luyện chiến thuật (погружение с подныриванием).
Vào lúc 13 giờ 26 phút tư lệnh hạm đội đã nhận điện tín của tàu ngầm về sự bắt đầu lặn của nó theo góc phương vị 335° trong khoảng cách 10 dặm từ ngọn hải đăng «Выев-Навалок».
Sau đó thì kết nối với tàu ngầm đã bị ngắt.
Ngày 15 tháng 11 ở khu vực lặn của tàu ngầm Д-1 trên mặt nước đã phát hiện nhiều vệt dầu xola và các mảnh: phao cứu sinh, các tấm bảng từ hòm ắc quy của buồng vô tuyến với chiều dài 60 cm, thanh gỗ thông và các vật khác
Khi rà quét khu vực lặn của tàu ngầm Д-1 18/XI đã làm đứt dây chão của máy quan trắc đáy nước. Máy dò kim loại đã xác định ở vị trí này có xuất hiện một lượng lớn kim loại. Giả định rằng ở đây có thân vỏ tàu ngầm.
Nguyên nhân cuối cùng về tai nạn tàu ngầm đã không được xác định. Các giả định của các chuyên gia như sau :
Sự hỏng hóc của các hệ thống máy khi lặn, hệ quả là tàu ngầm bị mắc cạn và ở độ sâu đạt được ở khu vực đó là 200-300m, tàu đã bị ép nát.
Sự nổ đạn hoặc ngư lôi trong tàu ngầm từ hệ quả của việc chứa đựng chúng không đúng.
Nguyên nhân thứ hai được chú ý đặc biệt bởi vì vào tháng 1 năm 1940 cũng trên tàu ngầm này đã ghi nhận trường hợp rơi từ trên giá đỡ hai quả đạn vì đã cất chúng không tốt
15 tháng 11 C-33 và ЛД Москва
C-33 зав. № 349, thuyền trưởng trung úy Алексеев Борис Андреевич, thuộc hạm đội biển đen, seris 1X- бис. Hạ thủy ngày 30 tháng 5 năm 1939. Trong giai đoạn hoàn chỉnh và chạy thử nghiệm.
15 tháng 11 để kéo mũi tàu tiến về trước thì tầu ngầm C-33 được lai dắt từ bến nhỏ của nhà máy đóng tàu quốc gia Nhikolaev № 198 mang tên А. Марти theo luồng sông với gió cấp 5. Tàu ngầm đã va chạm với tàu Москва và làm hư hỏng chân vịt bên trái.
16 tháng 11 và sau đó
Сордфиш (S-61 Swordfish), lớp S (Sturgeon), Anh quốc, 735/953 tấn, lượng dự trữ nổi 24%, kíp tàu biên chế 36 người. Hạ thủy ngày 10 tháng 11 năm 1931. Biên chế vào trong đội hình ngày 28 tháng 11 năm 1932. Thời gian phục vụ 8 năm.
Trên hành trình đến Юсхант (vịnh Бискайский) tàu ngầm Сордфиш đã bị đắm cùng với tất cả kíp tàu mà không rõ nguyên nhân, theo tài liệu khác thì ngày 07 tháng 11 tàu đã bị nạn do mìn ở vịnh ЛаМанш trên khu vực mũi Сен-Катрин (đảo Уайт, Anh quốc). Nguyên nhân, vị trí và thời gian gặp nạn không được xác định. Trong thảm họa có 36 người chết.
27 tháng 11.
Щ-210, зав. № 1034, thuyền trưởng thượng úy Фокин Михаил Иванович, chính trị viên Донец Георгий Васильевич, thuộc hạm đội biển đen, seria X, 587/708 tấn, lượng dự trữ nổi 19%, kíp tàu biên chế 40 người (7 sỹ quan, 15 hạ sỹ quan và 18 thuyền viên). Biên chế trong đội hình ngày 09 tháng 03 năm 1937. Thời gian phục vụ 3 năm 8 tháng.
Ngày 27 tháng 11 tàu ngầm Щ-210 – hải đội tàu ngầm thứ 32 của lữu đoàn tàu ngầm -hạm đội biển đen đã đến gặp tàu quét mìn Гарпун để chuyển chỉ huy hải đội tàu ngầm thứ 31 thiếu tá Кузьмин lên tàu ngầm Щ-210, từ hậu quả của việc vận hành điều khiển tàu quét mìn không đúng dẫn đến việc va vào tàu ngầm, cánh quạt chân vịt của tàu săn ngầm đã bị hư hỏng vì va vào vành bảo vệ của tấm lái ngang ở đuôi tàu. Cần phải thay thế hoặc sửa chữa trên đốc. Tàu ngầm đã không bị hư hỏng gì.
Nguyên nhân: 1. Để chuyển chỉ huy hải đội tàu ngầm số 31 thiếu tá Кузьмин sang tàu ngầm Щ-210 cần phải sử dụng xuồng con chứ không được ra lệnh tàu ngầm tiến lại gần tàu quét mìn. 2. Việc điều khiển tàu quét mìn đã không được chính xác.
Tháng 11.
U-560* , Đức, seria VIIC, 769/871 tấn, lượng dự trữ nổi 13%, kíp tàu biên chế 44 người (4 sỹ quan, 40 hạ sỹ quan và thuyền viên). Trong thời gian hoàn thiện và thực hiện thử nghiện bàn giao.
Trong thời gian tháng 11 khi thực hiện thử nghiệm bàn giao thì trên các tàu ngầm đến Мемеля (biển Baltic) tàu ngầm U-560 bị chìm vì va chạm.Trong thảm họa có 44 thuyền viên bị chết. Tàu được vớt lên, sửa chữa và đưa vào sử dụng ngày 06 tháng 3 năm 1941, tàu được sử dụng để huấn luyện giảng dạy.
Ngày 1 tháng 12
Щ-403, thuyền trưởng trung úy Коваленко Семён Иванович, thuộc hạm đội biển đen, seria X. Được đưa vào hoạt động ngày 01 tháng 10 năm 1936. Thời hạn phục vụ 4 năm 2 tháng.
Trên đường di chuyển từ Пуманк đến căn cứ Полярное ngày 01 tháng 12 vào lúc 20.02 tàu ngầm Щ-403 – hải đội tàu ngầm thứ 2 của lữ đoàn tàu ngầm - hạm đội biển đen từ hệ quả của sự vạch hướng bởi hoa tiêu theo bản báo cáo sai của trực chỉ huy tàu ngầm về vòng hồi chuyển mà tàu đã chạm vào đáy của bờ biển khu vực Корелинск, phần bên dưới thân tàu và chân vịt bên phải bị hư hỏng.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến (Mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội biển đen từ 10 tháng 10 đến 31 tháng 12 năm 1940) [Mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội biển đen. Nội dung : về trường hợp chạm vào đáy của tàu ngầm Щ-403 ngày 01 tháng 12 năm 1940 trên khu vực Корелинск
6 tháng 12 năm 1940 №0490 thành phố Полярное
Ngày 01 tháng 12 năm 1940 tàu ngầm Щ-403 trên đường từ Пуманк đến Полярное. Tình hình khí tượng trên hành trình: gió đông nam cấp 6-7, tầm nhìn xa 6-7 dặm (gần 11-13 km), biển cấp 4-5.
Vào lúc 18.41, tàu đi theo hướng 1910 với cách tính đi ra xa ngọn hải đăng Выев-Наволок, tàu ngầm Щ-403 đã xác định vị trí của mình trên hướng này tại điểm có tọa độ 69°35’ NL / 33°09,5' WA, giá trị vận tốc kế là 30,5.
Theo tính toán sơ bộ sự chuyển hướng 1910 sang 920 đã được tính ở 4 dặm (gần 7400m) cách ngọn hải đăng Выев-Наволок về phía bắc.
Vào lúc 19.22 giá trị vận tốc kế là 38,2, tàu ngầm Щ-403 đã quay sang hướng 920 theo góc phương vị của ngọn hải đăng Рыбачий- Городецкий 1310, độ chênh lệch trên vận tốc kế đã chỉ ra rằng tàu ngầm đã ở gần bờ
Vào lúc 19.27, giá trị trên vận tốc kế là 39,1, hoa tiêu đã xác định vị trí theo góc phương vị của ngọn hải đăng Выев-Наволок và Сеть-Наволок ở điểm có tọa độ 69°28,9' NL / 33°10,5' WA, nhưng có lẽ đã lấy nhầm góc phương vị của điểm sáng khác trên bờ thay vì ngọn hải đăng Сеть-Наволок. Do vậy vị trí thu được bị sai số so với vị trí tính toán một góc 1040 – 0,9 dặm (gần 1700m). Sai số này đã chứng tỏ rằng sự chuyển hướng 1910 sang 920 đã được thực hiện gần ngọn hải đăng Выев-Наволок, hơn nữa sự tính toàn này là theo tính toán sơ bộ ban đầu được thực hiện bởi hoa tiêu, được xác định theo chỉ số trên vận tốc kế. Tàu ngầm Щ-403 đã đi theo hướng 920 đến 19 giờ 48 phút.
Vào lúc 19.48 tàu ngầm Щ-403 đi theo hướng 1450. Việc chuyển sang hướng 1450 đã được thực hiện sớm hơn tính toán 14 dặm (gần 2600m) bởi vì trực chỉ huy tàu ngầm Щ-403 thượng úy Шипин đã ra lệnh cho hoa tiêu rằng hướng vuông góc với ngọn hải đăng Сеть-Наволок đã đi qua rồi.
Hoa tiêu tàu ngầm thượng úy Беляев đã tin tưởng vào báo cáo của trực chỉ huy, đã không chờ cho thời gian tính toán và giá trị trên vận tốc kế, đã không kiểm tra góc phương vị, không hỏi sự cho phép của thuyền trưởng đã lái tàu sang hướng 1450, đã không báo cáo gì về sự sai lệch vị trí và rằng anh ta không tin tưởng vào sự chính xác của điểm chuyển sang hướng 1450
Và hệ quả là sự chuyển hướng từ 1910 sang hướng 920 đã được thực hiện tại điểm gần với ngọn hải đăng Выев-Наволок, còn sự chuyển hướng 920 sang hướng 1450 đã được thực hiện trước đó 1,4 dặm, theo hướng 1450 đã đưa tàu ngầm Щ-403 đến bờ biển thuộc khu vực đảo Корелинск
Vào lúc 20.02 trên tàu ngầm đã phát hiện ra bờ thẳng với mũi ở khoảng cách gần 3 cabentôp (gần 550m), động cơ diesel được tắt, bánh lái quay sang phía bên mạn trái.
Vào lúc 20.02 phát còi báo động, cho lùi về sau hết lực. Quay sang trái 1200. Tàu ngầm đã bị chạm vào đáy.
Từ hệ quả của sự chạm đáy trên tàu ngầm Щ-403 bị vỡ sống tàu với chiều dài từ sườn tàu số 17 đến 24. Cánh quạt của chân vịt bên phải vị rách một đường 180mm và hai đường 120mm, thêm vào đó trên một cánh bị nứt theo đường bán kính 30mm.
Khớp cam của đường trục bên phải bị kẹt, đường trục dẫn bị hỏng.
Tàu ngầm bị hỏng 12-15 ngày. Tai nạn trên xuất phát từ việc vi phạm những nguyên tắc cơ bản của hàng hải, thiếu sự phân tích và kiểm tra việc xác định và tính toán, tổ chức trực canh gác không tốt và thiếu trách nhiệm của thuyền trưởng tàu ngầm, hoa tiêu và trực chỉ huy tàu.
Thuyền trưởng tàu ngầm Щ-403 trung úy hải quân Коваленко đã không kiểm tra làm việc của hoa tiêu và trực chỉ huy, không theo dõi tình hình.
Trợ lý trực của thuyền trưởng tàu ngầm Щ-403 thượng úy Шипин vì không biết tình hình điều hướng và vì bản báo báo không chính xác cho hoa tiêu đã bị bắt giam vào trong buồng tàu 7 ngày.]
06 Tháng 12 và sau đó
Регьюлес (R-88 Regulus),lớp R (Rainbow), Anh quốc 1740/2015 tấn, lượng dự trữ nổi 14%, kíp tàu biên chế 51 người, đưa vào hoạt động từ 07 tháng 12 năm 1930. Thời gian phục vụ 10 năm.
Trên vịnh Отранто ( địa tring hải) tàu ngầm Регьюлес đã bị chìm cùng với tất cả kíp tàu mà không rõ nguyên nhân. Theo tài liệu khác thì ngày 26 tháng 11 tàu đã bị nổ do mìn và bị thiệt mạng ở vịnh Отранто trên đường đến Кальяно-дель-Капо (Ý), tại điểm có tọa độ 40° NL /17°30' WA. Nguyên nhân, địa điểm và thời gian thảm họa đã không được xác định. Trong thảm họa có 51 người chết.
06/07 tháng 12
Л-10 Менжинец, зав. № 285, thuyền trưởng thiếu tá Щербатов Виктор Михайлович , thuộc liên bang Nga, hạm đội thái bình dương, seria XI. Đưa vào hoạt động ngày 08 tháng 11 năm 1937. Thời gian phục vụ 2 năm 10 tháng.
Trong đêm ngày 06/07 tháng 12 trên tàu ngầm Менжинец - hải đội tàu ngầm 41 của lữ đoàn tàu ngầm số 4 - hạm đội thái bình dương trong thời gian lặn ở độ sâu 53 m vì đã không đóng hoàn toàn van thoát nước nên nước biển đã tràn vào hầm của khoang thứ 3 với một lượng gần 0,5 tấn nước.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến [ Bản báo cáo về tai nạn, hỏng hóc ngày 07 tháng 12 năm 1940 trên tàu ngầm Л-10 lữ đoàn tàu ngầm số 4 hạm đội thái bình dương
06 tháng 12 năm 1940 Nước biển đã tràn vào hầm của khoang thứ 3. Tàu ngầm nằm trên đáy ở độ sâu 53m. Nước đã tràn qua van thoát nước của hầm, lượng nước tràn vào gần 0,5 tấn.
Hành động của thuyền viên khi phát hiện ra nước trong hầm đã báo động, cho bơm thoát nước và tàu ngầm đã nhanh chóng nổi lên.
Từ tai nạn nước biển đã bắn vào động cơ tời của kính tiềm vọng, sau đó thì chúng được tháo ra, lau chùi trong nước cất và rửa bằng cồn. Bằng lực lượng sửa chữa của các thuyền viên điện trở cách điện đã được khôi phục bình thường.
Ngày 14 tháng 12 tàu ngầm Щ-123 và Щ-128
Щ-123 Угорь, зав. № 215, thuyền trưởng thượng úy Бочаров Павел Иванович, phó thuyền trưởng chính trị Скупнов Иван Антонович, hạm đội thái bình dương, seria V-бис-2. Đưa vào hoạt động ngày 30 tháng 04 năm 1935, thời gian phục vụ 5 năm 8 tháng
Щ-128, зав. № 258, thuyền trưởng trung úy Афанасьев Глеб Емельянович, chính trị viên Юген, hạm đội thái bình dương. Đưa vào hoạt động ngày 03 tháng 10 năm 1936, thời gian phục vụ 2 năm 2 tháng .
Ngày 14 tháng 12 vào lúc 09.45 tàu ngầm Щ-128 hải đội tàu ngầm 33 của lữ đoàn tàu ngầm số 3 hạm đội thái bình dương đã di chuyển từ mặt phía đông cảng số 1 ra mặt phía sau của nó. Trong thời gian neo đậu lại tàu ngầm Щ-128 đã đâm vào vành bảo vệ tấm lái ngang ở mũi của tàu ngầm Щ-123 đậu sát bên cạnh và bị thủng ở két dằn số 2 bên mạn phải, vết thủng chỉ được phát hiện sau một khoảng thời gian khi mà độ nghiêng ngang bên mạn phải tăng lên.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến [Mệnh lệnh cho lữ đoàn tàu ngầm số 3, nội dung: về hỏng hóc của két dằn số 2 trên tàu ngầm Щ-128
29 tháng 12 năm 1940 №0244 Находка
Ngày 14 tháng 12 năm 1940 vào lúc 09.45 tàu ngầm Щ-128 đã neo đậu lại từ phía đông cảng số 1 ra phía bắc của cảng này. Sau khi neo đậu thì trực gác trên tàu ngầm phát hiện độ nghiêng ngang về phía mạn phải tăng dần. Sau khi xuất hiện nguyên nhân sự nghiêng ngang thì đã phát hiện ra lỗ thủng trên két dằn số 2 bên mạn phải giữa sườn tàu số 34 và 35 với kích thước 1120mm và chiều dài 5mm, lỗ thủng là hậu quả của sự va đập bên ngoài với vành bảo vệ tấm lái ngang ở mũi của tàu ngầm Щ-123. Hư hỏng được khắc phục vào lúc 18.00 ngày 14 tháng 12
Vì thực hiện neo đậu không cẩn thận nên thuyền thưởng tàu ngầm Щ-128 bị khiển trách nghiêm khắc.
Lệnh cho tất cả các thuyền trưởng tàu ngầm tuân thủ cẩn trọng đặc biệt khi neo đậu tàu dưới sự kiểm tra của chỉ huy đội tàu ngầm.
Lữ trưởng lữ tàu ngầm số 3 hạm đội thái bình dương trung tá Байков]
16 tháng 12
M-59, зав. № 250, thuyền trưởng thượng úy Матвеев Георгий Андреевич, thuộc hạm đội biển đen, seria XII. Đưa vào hoạt động từ ngày 20 tháng 6 năm 1940. Thời gian phục vụ 6 tháng.
Ngày 16 tháng 12 trong thời gian di chuyển đến thành phố Новороссийск ở khu vực phía nam của ngọn hải đăng Херсонесский tàu ngầm M-59 – hải đội tàu ngầm 23, lữ đoàn tàu ngầm thứ 2, hạm đội biển đen trong điều kiện tầm nhìn xa kém do sự bất lực của hoa tiêu vì bị say sóng nên việc vạch hành trình đã mất vị trí tính toán và đã gần bờ, phần mũi tàu bị đụng vào đáy biển.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến [báo cáo không định kỳ về tai nạn ngày 16 tháng 12 năm 1939 của tàu ngầm M-59 lữ đoàn tàu ngầm số 2 hạm đội biển đen. Thuyền trưởng thượng úy Матвеев. Phần mũi tàu bị chạm vào đáy. Khu vực ngọn hải đăng Херсонесский về phía nam, biển cấp 7, gió hướng tây cấp 7, tầm nhìn xa 100-200m. Có bão tuyết.
Tàu ngầm đến căn cứ chính và thành phố Новороссийск với phương 3200, vận tốc 5,5 hải lý, tầm nhìn xa 100-200m với nắp mui tàu đóng, bởi vì các cơn sóng lớn đã trùm lên tàu,không có liên lạc đài chỉ huy với trạm trung tâm, việc vạch hướng không được thực hiện, hoa tiêu đã mất khả năng vì say sóng, bộ lặp bị hỏng, la bàn nam châm cũng hỏng, vị trí bị sai lệch, đã phát hiện bờ ở khoảng cách 100-150m, cho tàu lùi về sau hết cỡ nhưng theo quán tính mũi tàu vẫn chạm vào đáy.
Sống tàu bị hư hỏng và có 2-3 vết lõm trên lớp thân vỏ bên trong với kích thước nhỏ, ống lót chân vịt bị phá hỏng bởi sóng. Không có thương vong.
Lỗi trong tai nạn. Đã không có sự vạch hướng chính xác, gió lớn cùng với tuyết đã đập vào mắt và không cho khả năng quan sát được chính xác. Việc kiểm tra bằng la bàn thủy văn phía bên dưới trong thời gian đó không dược thực hiện. Tầm nhìn xa kém từ đài chỉ huy vì trong thời gian này bị nước biển bắn lên.
18 tháng 12
C-101, thuyền trưởng thiếu tá Векке Виктор Кузьмич, hạm đội ban-tíc, seria 1X- бис, đưa vào đội hình ngày 15 tháng 12 năm 1940. Thời gian phục vụ 2 ngày
C-102, thuyền trưởng thượng úy Иванов Борис Владимирович, phó thuyền trưởng chính trị Федорченко Василий Павлович , chỉ huy hải đội tàu ngầm 16 của đội đóng lại và đại tu tàu ngầm hạm đội ban-tic thượng úy Хомяков Михаил Фёдорович, hạm đội ban-tic, seria 1X- бис. Hạ thủy ngày 20 tháng 4 năm 1938. Trong giai đoạn thực hiện thử nghiệm bàn giao.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến [Báo cáo của tư lệnh hạm đội ban-tic. Nội dung: về hư hỏng chân vịt tàu ngầm C-101 và C-102.
25 tháng 12 năm 1940 №0719 thành phố Кронштадт
Ngày 18 tháng 12 năm 1940 tàu ngầm C-101 và C-102 đã rời Кронштадт đến Либавa bằng tàu kéo КП-1. Cánh quạt chân vịt bị hỏng khi ra đến vũng tàu và không thể hoạt động được trong 15-20 ngày.
Lệnh:
Cho thuyền trưởng tàu ngầm C-101 thiếu tá Векке vì thiếu kinh nghiệm điều hành khi đưa tàu ra vũng bị khiển trách
Cho thuyền trưởng tàu C-102 thượng úy Иванов vì thiếu kinh nghiệm điều hành khi đưa tàu ra vũng bị khiển trách
Tư lệnh hạm đội ban-tic trung tướng Трибуц]
19 Tháng 12
Сфакс (0-182 Sfax), lớp 1500 tấn, lực lượng hải quân chính phủ Виши (Pháp), 1570/2084 tấn, lượng dự trữ nổi 24%, kíp tàu biên chế 61 người (5 sỹ quan, 14 hạ sỹ quan và 42 thuyền viên). Đưa vào đội hình từ 06 tháng 12 năm 1936. Thời hạn phục vụ 4 năm.
Tàu ngầm Сфакс khi Pháp đầu hàng đã ở lại trong biên chế của lực lượng hải quân chính phủ Виши. Ngày 15 tháng 12 vì bị nhận nhầm là thuyền của Anh và bị đánh chìm ở biển atlantic trên khu vực mũi Юби (trên hành trình đến Casablanca, Marocco Pháp) tại điểm có tọa độ 34°30' NL/ 08°55' WA bởi tàu Đức U-37. Trong thảm họa có 61 người chết.
Tháng 12
U-43, thuyền trưởng trung úy Лют (Luth), Đức, seria IXA, 1032/1153 tấn, lượng dự trữ nổi 11%, kíp tàu biên chế 48 người. Đưa và đội hình ngày 26 tháng 8 năm 1939. Thời gian phục vụ 3 tháng
Trong tháng 12 vì hậu quả của hành động sai lầm của thuyền viên, tàu ngầm U-43 bị chìm với tất cả kíp tàu. Trong thảm họa có 48 người chết. Sau đó tàu được vớt lên và lại tiếp tục đưa vào hoạt động.
Năm 1940 (thời gian chính xác không được nêu rõ)
M-7, thuyền trưởng trung úy Мельников Михаил Дмитриевич, hạm đội thái bình dương, đưa vào đội hình ngày 06 tháng 07 năm 1934. Thời gian phục vụ gần 6 năm.
Năm 1940 trong thời gian lặn khẩn cấp tàu ngầm M-7 - hải đội tàu ngầm 22 đội thuộc lữ đoàn tàu ngầm số 2 hạm đội thái bình dương, nước biển đã tràn vào khoang ắc quy qua hệ thống thông gió của bộ ắc quy, hậu quả là nước đã bắn lên 8 thiết bị. Việc lặn của tàu ngầm bị dừng lại. Nguyên nhân tai nạn: tàu ngầm đã lặn với quạt gió của bộ ắc quy làm việc và với van ống thông gió bộ ắc quy bị mở.
Năm 1940 (thời gian chính xác đã không được nêu rõ)
Силайон (Sealion), lớp Sealion, thuyền trưởng trung úy Брайэнт (BryantВ.), Anh quốc, 765/960 tấn, lượng dự trữ nổi 23%, kíp tàu biên chế 36 người.
KempР. К. Н. М. SubmarinesLondon1952, p. 151-153 [sau cuộc tấn công thành công tàu vận tải lớn của Đức thì đối thủ bắt đầu truy kích tàu ngầm Силайон dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Брайэнт. Tàu ngầm đã lặn xuống, khi đến đêm nó đã thử nặp bộ ắc quy và làm thông hơi các khoang.
Khi tàu Силайон thử nổi lên trạng thái nổi, nó lại bị phát hiện bởi tàu đối phương và lại bị tấn công. Bom ngầm đã phá hủy máy dò âm dưới nước của tàu ngầm và chỉ đến gần 23.00h nó mới được sửa chữa. Bây giờ kíp tàu mới lại có thể nghe thấy chuyển động của tàu chiến phía trên tàu ngầm. Cũng trong thời gian này họ đã nghe được hình như các tàu chiến đã bỏ đi. Chỉ đến nửa đêm Силайон mới có thể nổi lên ở trạng thái nổi, thông hơi các khoang một cách an toàn và nạp bộ ắc quy. Đến thời điểm đó tàu ngầm đã ở liên tục dưới nước 45 tiếng. Suốt buổi đêm trời rất tối và kíp tàu đã khắc phục hỏng hóc gây ra bởi cuộc tấn công của tàu địch.
Sáu ngày sau đó Силайон lại ở vị trí chiến đấu. Tàu ngầm đã phát hiện ra đoàn tàu hộ tống của địch và đã quan sát chúng đi vào một trong những fio của Nauy như thế nào. Trong thời gian đó trên kính tiềm vọng nhận thấy rằng một trong những tàu vớt thủy lôi của đoàn tàu hộ tống đã quay về phía tàu ngầm với hết tốc lực để đâm tàu ngầm. Nó đã đâm vào kính tiềm vọng bằng sống mũi, phần phía trước bị phá hỏng. Nhưng thuyền trưởng đã cho tàu lặn và né tránh cú phản kích, khi tiếp theo sau cú đâm những quả mìn ngầm đã được ném xuống.
Một tiếng sau đó kíp tàu đã dừng cả 2 động cơ điện chính và lắng nghe xung quanh. Trên bề mặt tất cả đều yên tĩnh, Брайэнт quyết định nổi lên trên trạng thái nổi và xác định mức độ thiệt hại. Nhưng khi chỉ mới thổi két dằn chính thì đã nghe thấy âm thanh chân vịt. Các tàu bảo vệ của địch vẫn còn ở đó và đã truy tìm Силайон trong thời gian 5 tiếng, trời gian trôi đi, bom ngầm đã ném xuống tàu ngầm.
Cuối cùng vào lúc nửa đêm tàu ngầm đã có thể nổi lên trạng thái nổi và kíp tàu bắt đầu kiểm tra hư hỏng. Chúng có vẻ nặng hơn so với dự tính, Cái trục của kính tiềm vọng phía sau bị cong và vắt tự do lên trên mạn. Trục cần được gia cố lại trước khi quay về căn cứ, và công việc này cần phải làm trong bóng tối vì nếu có một tia sáng bất kỳ nào đó thì có thể tàu lại bị tấn công tiếp.
Đến trước bình minh kíp tàu đã làm việc trong căng thẳng, họ cố gắng đưa dây chão quanh quả nặng đu đưa và cố định nó vào trục của kính tiềm vọng trước. Trước khi lặn khi mà cho rằng công việc đã được hoàn tất và những người mệt mỏi đã lên trên đài chỉ huy thì họ nhìn thấy rằng dây chão cố định đã không thể giữ được sức căng và bị đứt. Tất cả công sức bị hỏng hết. Thời gian đến trước lúc lặn đã không còn để mà có thể gia cố lại trục và Силайон đã lặn cùng với khối thép không được gia cố, bị treo tự do trên thân vỏ tàu ngầm.
Tàu ngầm đã bò chậm chạp về hướng căn cứ cả ngày. Khi màn đêm buông xuống thì tàu ngầm lại nổi lên và công việc lại được bắt đầu. Và lại một lần nữa không thành công. Khi đó Брайэнт quyết định gỡ hết trục đi và làm cho Силайон trở nên dễ điều khiển hơn. Trong thời gian đó chiến sỹ vô tuyến điện đã lắp thành công ăng-ten tạm thời thay cho ăng-ten bị hỏng do va chạm. Nó có thể truyền bức điện vô tuyến về Anh quốc với bản báo cáo về tình hình của tàu ngầm. 3 ngày sau tàu ngầm đã về đến căn cứ].
Năm 1940 (thời gian chính xác đã không được nêu)
Трайдент (Trident), lớp Triton, thuyền trưởng trung úy Слэдэн (G. М. Sladen), Anh quốc, 1325/1580 tấn, lượng dự trữ nổi 18%, kíp tàu biên chế 59 người. Đưa vào hoạt động từ 1940.
KempР. К., op. cit., р. 153, 154 [tàu ngầm Трайдент dưới sự chỉ huy của trung úy Слэдэн ở trong giới hạn tầm nhìn thấy từ bờ biển Nauy, khi nó ở trạng thái nổi đã thực hiện tấn công tàu chở quặng sắt của Đức đi từ Нарвик. Cuộc tấn công này xảy ra ở Корс-фиорд và trên những vách đá dựng đứng những người dân Nauy đã quan sát trận đấu với sự thích thú và ngưỡng mộ. Трайдент từ khoảng cách 24,7 cabentôp đã khai hỏa từ những hỏa lực của mình. Trong sự cố gắng thoát nạn tàu Đức đã chạy về phía gần bờ nhưng nhũng người Anh quốc đã bồi thêm cho nó những quả ngư lôi và làm cho tàu Đức nổ tan tành.
Nhưng bản thân tàu Трайдент cũng không thoát ra khỏi Фиорд thành công mà không có giao chiến thêm nữa, Tàu ngầm vừa mới ra khỏi Фиорд thì nó đã bị tấn công và bom ngầm đã nổ ở rất gần làm cho nước ngoài mạn tràn vào ở một số chỗ trên lớp vỏ bên ngoài của tàu. Điều này không quá nguy hiểm nhưng phải mất một khối lượng công việc để khắc phục và trong hầm có nước làm cho việc cân bằng dọc tàu trở nên khó khăn.
Khi lặn tàu ngầm đạt được độ sâu 122m, nhưng không được xả nước từ hầm ra bởi vì nước bị vấy bẩn dầu xola là không thể tránh khỏi và khi đó trên mặt nước có sự xuất hiện của các tàu bảo vệ và chúng sẽ phát hiện ra sự có mặt của tàu ngầm. Nước bị vấy bẩn dầu được thu lại trong đuôi tàu làm cho tàu càng nặng hơn, tàu bị nghiêng dọc về phía đuôi 100 và chìm xuống đến độ sâu 130m.
Để cân bằng dọc lại tàu ngầm thì một dây chuyền các thủy thủ đã được tổ chức, họ sẽ chuyền tay nhau những thùng nước để múc cạn nước từ hầm đuôi tàu. Những thùng nước được chuyền tới hầm ở mũi tàu và đổ vào đó trong két dằn dọc cho đến khi độ cân bằng dọc được khắc phục. Трайдент đã không để vết dầu lên trên bề mặt nước và ngăn ngừa cuộc tấn công của các tàu bảo vệ. Tàu được nổi lên và những người Anh nhận thấy biển rất tĩnh lặng].
PHỤ LỤC 1
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-1678, оп. 1, д. 90 (Tài liệu thu hồi từ chính phủ ngày 01 tháng 01 năm 1937 - ngày 31 tháng 01 năm 1939) trang 5:
[20 tháng 1 năm 1939 №132cc ЦК ВКП(б) тов. Жданову А. А
Báo cáo:
Ngày 13 tháng 1 năm 1939 vào lúc 14.00 trên tàu ngầm Щ-214 ở căn cứ chính hạm đội biển đen thành phố Севастополь vì ra lệnh không đúng cho thuyền trưởng tàu ngầm Щ-214 thượng úy Горбатовский đã thực hiện bắn đạn huấn luyện 45mm, đạn đã nã vào một trong những tòa nhà của căn cứ chính, hậu quả là làm tường bị hư hỏng, không có ai bị thiệt mạng. Cuộc điều tra được thực hiện bởi chính ủy hải quân Xô Viết thiếu tướng Фриновский]
Trên tòa án thuyền trưởng tàu ngầm Щ-214 thượng úy Горбатовский Степан Петрович trong trường hợp này không có biểu hiện gì. Ông ta tiếp tục phục vụ trên tàu ngầm và phục vụ đến quân hàm thiếu tướng hải quân.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến ф. р-970, оп. 2, д. 114, л. 147, 148 [ mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc. Nội dung: về việc thực hiện diễn tập cấp đội lớn (БОУ) № 2
13 tháng 8 năm 1939 №00147 thành phố Полярное
Trong thời gian từ 25 đến 30 tháng 8 năm 1939 ấn định diễn tập cấp đội lớn (БОУ) № 2 của hạm đội Bắc
Đề tài của БОУ № 2 – đưa tàu ngầm ra khỏi vịnh Кольск với sự khắc phục sự kháng cự của quân địch, những hành động của tàu ngầm trên đường liên lạc của quân địch và đảm bảo quay về căn cứ.
…….
6. Chỉ huy БОУ № 2 sẽ là tôi
Chỉ huy quân đỏ là lữ trưởng tàu ngầm trung tá Максимов
Chỉ huy quân xanh là командира ОДМ thiếu tá Колчин
Khu vực БОУ № 2 của Nauy, biển Баренцево và biển trắng.
Tư lệnh hạm đội Bắc thiếu tướng Дрозд
Ủy viên hội đồng quân sự hạm đội Bắc chính trị viên lữ đoàn Масалов
Tham mưu trưởng hạm đội Bắc đại tá Голубев]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-970, оп. 2, д. 114, л. 139, 140 [ mệnh lệnh tư lệnh hạm đội Bắc. Nội dung: Kết quả thực hiện БОУ № 2.
2 tháng 09 năm 1939 №00221 thành phố Полярное
БОУ № 2 được diễn ra từ 25 đến 30 tháng 08 năm 1939 đã chỉ ra rằng tất cả thuyền viên của hạm đội Bắc đã thực hiện sẵn sàng chiến đấu thành công và đã làm một khối lượng công việc lớn cho việc tổ chức bảo đảm và năng cao khả năng sẵn sằng chiến đấu của hạm đội.
Các tàu chiến và các bộ phận của hạm đội đã nhận diễn tập trong trạng thái sẵn sàng cao độ, trong sự tác động qua lại việc hoàn thành nhiệm vụ quân sự và sử dụng vũ khí của mình. Các tàu ngầm đã nhận diễn tập trong các cuộc hành quân khi mà thời tiết có bão. Việc tổ chức bảo đảm vẫn tiếp tục ở mức thấp vì các tình tiết sau:
Trên tàu ngầm Щ-402 (thuyền trưởng trung ý hải quân Бакунин) trong thời gian di chuyển chiến sỹ hải quân Закерничный bị sóng cuốn đi và bị chết. Đây là kết quả không may từ việc tổ chức bảo đảm kém, kỹ năng đi biển kém và thái độ hờ hững với con người.
Trên tàu ngầm Щ-403 (thuyền trưởng thượng úy Ельтищев) sóng cũng đã cuốn chiến sỹ hải quân Кузнецов nhưng anh ta được cứu thoát.
Trên tàu ngầm Щ-401 (thuyền trưởng trung úy hải quân Шуйский) từ tai nạn левого ЦД đã phải quay về căn cứ và hầu như không tham gia vào diển tập.
Tàu ngầm Д-1(thuyền trưởng trung úy hải quân Августинович) khi neo đậu đã làm hỏng bến.
Tư lệnh hạm đội Bắc thiếu tướng Дрозд
Ủy viên hội đồng quân sự hạm đội Bắc chính trị viên lữ đoàn Масалов
Tham mưu trưởng hạm đội Bắc đại tá Голубев]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-970, оп. 2, д. 115 (Mệnh lệnh tư lệnh hạm đội Bắc. 07 tháng 1 – 29 tháng 12 năm 1939), trang 314 [mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc. Nội dung: về cái chết của chiến sỹ hải quân tàu ngầm Щ-402 Закерничный.
22 tháng 10 năm 1939 №0284 thành phố Полярное.
27 tháng 8 năm 1939 trong thời gian đi đến biển Баренцево cùng với tàu ngầm Щ-402 (thuyền trưởng trung úy Бакунин) sóng đã đánh lên mạn và nhấn chìm chiến sỹ hải quân Закерничный
Tư lệnh hạm đội Bắc thiếu tướng Дрозд
Ủy viên hội đồng quân sự hạm đội Bắc chính trị viên lữ đoàn Масалов
Tham mưu trưởng hạm đội Bắc đại tá Голубев]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-397, оп. 8, д. 55а (Điều tra những biến cố, hư hỏng và tai nạn trên tàu ngầm ngày 1 tháng 1 – 31 tháng 12 năm 1939), trang 13 [29 tháng 5 năm 1939 khi thực hiện huấn luyện thực tế với các thuyền viên kíp tàu ngầm Щ-126 hải đội tàu ngầm 33 (thuyền trưởng thiếu tá Понамарёв) lữ đoàn tầu ngầm số 3 hạm đội thái bình dương theo nhiệm vụ dự phòng cứu hộ khi thoát qua qua thiết bị phóng lôi từ tai nạn thiệt mạng của tàu ngầm với sự giúp đỡ của thiết bị cứu hộ cá nhân Э-3 thì thuyền trưởng tàu ngầm Щ-126 trung úy hải quân Жернаков Владимир Леонидович và chiến sỹ hải quân Бакунов Никита Калинович đã chết].
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-970, оп. 2, д. 114, л. 134 [mệnh lệnh tư lệnh hạm đội Bắc. Nội dung: về sự cho phép đối với việc tự điều khiển tàu chiến.
19 tháng 8 năm 1939 №200216 thành phố Полярное
Từ kết quả kiểm tra của các thuyền trưởng các tàu chiến theo chương trình của tham mưu trưởng hải quân cho phép việc tự điều khiển tàu chiến cho những chỉ huy sau:
Tham mưu trưởng hải đội tàu ngầm– hạm đội Bắc trung tá Попов
Chỉ huy hải đội tàu ngầm số 1 thiếu tá Карпунин Вячеслав Петровиич
Tàu ngầm Д-1 thuyền trưởng tàu ngầm trung úy hải quân Августинович Михаил Петрович
Tàu ngầm Д-2 thuyền trưởng tàu ngầm trung úy hải quân Жуков Аркадий Алексеевич.
Chỉ huy hải đội tàu ngầm số 2 thiếu tá Колышкин Иван Александрович
Tàu ngầm Щ-401 thuyền trưởng tàu ngầm trung úy hải quân Шуйский Константин Матвеевич
Tàu ngầm Щ-402 thuyền trưởng tàu ngầm trung úy hải quân Бакунин Борис Константинович
Tàu ngầm Щ-403 thuyền trưởng tàu ngầm thượng úy Ельтищев Фёдор Максимович
Tàu ngầm Щ-404 thuyền trưởng tàu ngầm thượng úy Иванов Владимир Алексеевич
Chỉ huy hải đội tàu ngầm số 3 thiếu tá Георги Александр Иванович
Tàu ngầm Щ-421 thuyền trưởng tàu ngầm trung úy hải quân Егоров Павел Ильич
Tàu ngầm Щ-422 thuyền trưởng tàu ngầm thượng úy Денисов Владимир Семёнович
Tàu ngầm Щ-423 thuyền trưởng tàu ngầm trung úy hải quân Кейсерман Григорий Леонтьевич
Tàu ngầm Щ-424 thuyền trưởng tàu ngầm trung úy hải quân Касьяненко Иван Иванович
Chỉ huy hải đội số 4 trung úy hải quân Субботин Григорий Афанасьевич.
Cho phép tự điều khiển tàu trong điều kiện đơn giản và trong phạm vi Кильдинс- кого và các vịnh Мотовск đối với các thuyền trưởng sau :
Tàu ngầm M-171 thuyền trưởng tàu ngầm thượng úy Столбов Николай Гурьевич
Tàu ngầm M-172 thuyền trưởng tàu ngầm thượng úy Коваленко Семён Иванович
Tàu ngầm M-173 thuyền trưởng tàu ngầm thượng úy Купец Иван Андреевич
Tàu ngầm M-174 thuyền trưởng tàu ngầm thượng úy Егоров Николай Ефимович
Tàu ngầm M-175 thuyền trưởng tàu ngầm thượng úy Драчёнов Пётр Никитич.
Cho phép tự điều khiển tàu trên trạng thái nổi cho thuyền trưởng tàu ngầm M-176 thượng úy Пархоменко Глеб Владимирович.
Tư lệnh hạm đội Bắc thiếu tướng Дрозд
Ủy viên hội đồng quân sự hạm đội Bắc chính trị viên lữ đoàn Масалов
Tham mưu trưởng hạm đội Bắc đại tá Голубев]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-918, оп. 1, д. 110, л. 150 [ văn bản điều tra của lữ đoàn tàu ngầm hạm đội thái bình dương ngày 15 tháng 9 năm 1939. Thành viên kíp tàu ngầm ГЦ-126 [thuyền trưởng thượng úy Ткаченко Николай Николаевич (10 tháng 6 năm 1939 – 19 tháng 3 năm 1942), chính trị viên Драчинин của hải đội tàu ngầm số 33 (chỉ huy hải đội thiếu tá Понамарев) lữ đoàn tàu ngầm hạm đội thái bình dương] trước bữa ăn trưa đã thực hiện lặn huấn luyện trong các thiết bị cứu hộ cá nhân Э-3 dưới độ sâu 5-15m với chuyển động của dây chão dọc theo đáy biển ở khoảng cách đến 70m , ở lại dưới nước trong thời gian đến 15 phút. Меркулов Иван Андреевич (sinh năm 1913) là một trong số 5 người đã xuống nước. Sau khi lặn trong thời gian 1-2 phút thì Меркулов đã chuyển động về phái đáy, và đã rõ ràng anh ta mang theo mặt nạ dưỡng khí. Hai lần anh ta trả lời câu hỏi về tình trạng sức khỏe đều tốt, nhưng sau đó dừng chuyển động về phía đáy, và trong lần thứ ba thì đã không trả lời câu hỏi về tình trạng sức khỏe nữa. Sau đó xuất hiện bong bóng khí - điều mà đáng lẽ ra không được có. Меркулов được lôi ra khỏi dây cáp bảo hiểm và không có thiết bị mặt nạ Э-3, mặt nạ đã nổi lên đầu tiên cùng với thiết bị, anh ta bị bất tỉnh. Từ miệng anh ta chảy ra bọt máu. Bác sỹ đã làm cho Меркулов tỉnh lại trong 30 -40 phút, anh ta đòi uống và than đau đầu. Không có câu hỏi nào cho anh ta để anh ta không phải lo lắng. Trong thời gian Меркулов tỉnh lại thì nguyên nhân dẫn đến sự bất tỉnh đã không được làm sáng tỏ, sau đó thì Меркулов lại rơi vào trạng thái bất tỉnh nhân sự, trong trạng thái này anh ta được đưa đến bệnh viện quân y ở thành phố Владивосток. Nơi mà vào lúc gần 22.00 anh ta đã trút hơi thở cuối cùng vì bị vỡ mô phổi.
Chủ tịch hội đồng chính ủy tiểu đoàn Шиян
Thành viên hội đồng: bác sỹ quân y Кривошеенко, kiểm sát quân sự hạm đội thái bình dương Русинов 20 tháng 9 năm 1939]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-970, оп. 2, д. 115 (mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc. 07 tháng 1 – 29 tháng 12 năm 1939), trang 365 [mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc. Nội dung: về những trường hợp tai nạn và hư hỏng với vũ khí ngư lôi và cách khắc phục với chúng.
19 tháng 11 năm 1939 №0328 thành phố Полярное
Khi bốc dỡ ngư lôi đã làm rơi kim hỏa xuống nước
Tàu ngầm Щ-401 thuyền trưởng Шуйский, trưởng ngành 3 Артемьев
Tàu ngầm Щ-404 thuyền trưởng Иванов, trưởng ngành 3 Носачёв
Tàu ngầm Д-2 thuyền trưởng Жуков, trưởng ngành 3 Каутский – ngư lôi 45-12 bị chìm
Tàu ngầm Щ-402 thuyền trưởng Бакунин, trưởng ngành 3 Макаренков – ngư lôi bị chìm, sau đó được vớt lên.
Tư lệnh hạm đội Bắc thiếu tướng Дрозд
Ủy viên hội đồng quân sự hạm đội Bắc chính trị viên lữ đoàn Масалов
Tham mưu trưởng hạm đội Bắc đại tá Голубев]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-918, оп. 1, д. 110, л. 68, 69 [thống kê các vụ thảm họa, tai nạn, sự cố và hư hỏng lữ đoàn tàu ngầm hạm đội Bắc từ tháng 10 – tháng 12 năm 1939.
16 tháng 10 năm 1939 M-174 (thuyền trưởng thượng úy Егоров Н. Е.) bị dập phần mũi tàu khi va chạm với tùa kéo. Sửa chữa bởi xưởng sửa chữa nổi Кр. Горн. Việc sửa chữa mất 10 ngày. Nguyên nhân – sự điều phối không chính xác của thuyền trưởng
26 tháng 10 năm 1939 tàu ngầm Д-1 (thuyền trưởng trung úy hải quân Августинович) cháy bộ tiêu âm động cơ diesel. Dập kín đám cháy. Sửa chữa mất 9 ngày. Nguyên nhân – ăn mòn kim loại. Cần thay thế ống dẫn ga mới.
26 tháng 10 năm 1939 tàu ngầm Щ-404 (thuyền trưởng trung úy hải quân Иванов). Mắc kẹt trong bánh lái ngang ở đuôi tàu. Đưa lên đốc, lau chùi, chỉnh lại bộ truyền động. Sửa chữa mất 8 ngày. Nguyên nhân – kết cấu bánh lái không đạt yêu cầu. Khi tàu ngầm được sửa chữa vừa nó sẽ được thay thế.
10 tháng 10 năm 1939 tàu ngầm Д-7 (thuyền trưởng trung úy hải quân Ельтищев). Chảy dầu vào trong hầm ắc quy số 3 qua đinh tán bị yếu. Các thiết bị được tháo dỡ. Sửa chữa mất 3 ngày. Nguyên nhân – ăn mòn đinh tán. Trong sửa chữa cần kiểm tra tất cả hầm ắc quy.
10 tháng 10 năm 1939 tàu ngầm Д-1 (thuyền trưởng trung úy hải quân Ельтищев) vỡ hai tấm rẽ sóng. Tấm rẽ song phía trên bị vỡ. Nguyên nhân – song lớn đã làm vỡ.
15 tháng 11 năm 1939 tàu ngầm M-171 (thuyền trưởng thượng úy Стариков) . không đóng van thông biển của két dằn chính số 1. Cần đưa lên đốc. Nguyên nhân không rõ.
Tham mưu trưởng lữ đoàn tàu ngầm hạm đội Bắc thiếu tá Георги
Thợ cơ khí lữ đoàn tàu ngầm hạm đội Bắc kỹ sư quân giới Головатенко]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-397, оп. 2, д. 222 (thống kê thảm họa, tai nạn, sự cố và hỏng hóc trên các tàu chiến hạm đội biển đen trong tháng 12 năm 1939), trang 23 [04 tháng 12 tàu ngầm A-4 (thuyền trưởng thượng úy Касаткин Александр Петрович) ngư lôi 45-07 trong thời gian được nâng lên từ đáy tại điểm có tọa độ 44°47,7' NL /33°30,8' WA bị đứt phần đuôi cùng với chân vịt].
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-970, оп. 2, д. 115 [mệnh lệnh tư lệnh hạm đội Bắc. Nội dung: về trường hợp hỏng hóc của ngư lôi khi bắn để chỉnh đường hướng.
16 tháng 12 năm 1939 №0388 thành phố Полярное
Ngày 21 tháng 11 năm 1939 tàu ngầm M-173 trong thời gian bắn để chỉnh hướng bắn ngư lôi 53-27 № 1324 đã bị chệch sang phải và trồi lên bờ
Cuộc điều tra sự việc đã chỉ ra rằng ngư lôi đã được chuẩn bị ngày 20 tháng 11 theo những đúng quy tắc và trong ngày đó đã được chuyển lên tàu ngầm M-173.
Trong thời gian ngư lôi đặt trong thiết bị trước khi phóng thì khoang liều nổ thực của ngư lôi đã được thông gió cục bộ. Это продувание УЗО л/с ПЛ М-173 обнаружено не было, cho dù nắp phía sau của thiết bị phóng lôi đã được mở trước khi bắn ngư lôi.
Bởi vì УЗО вследствие продувания đã nhẹ hơn nên ngư lôi khi ra khỏi thiết bị phóng đã bị trồi lên bề mặt, bay trên không trung và do va vào nước đã làm chệch hướng của thiết bị Обри và làm ngư lôi bị chệch sang phải, trồi lên bờ.
Khi kiểm tra lại ngư lôi đã phát hiện ra rằng УЗО bị hư hỏng nặng và không thể sử dụng tiếp tục, có vết chầy xước dọc theo tất cả bình chứa khí nén với độ sâu đến nửa milimet, có vết lõm trên phần đuôi. Ngư lôi cần sửa chữa lớn.
Đường bắn chỉnh hướng được sử dụng không đúng. Cú bắn được thực hiện từ nơi hẹp, cho dù đội viên bắn ngư lôi của lữ đoàn tàu ngầm thượng úy Окунев cần biết rằng quỹ đạo không đúng của ngư lôi có thể chủ yếu là ở cự ly ban đầu và ngư lôi 53-27 theo quy tắc khi không đúng quỹ đạo sẽ bị chệch sang phải.
Hơn nữa trước khi tàu ngầm M-173 bắn thì tàu ngầm M-174 (thuyền trưởng thượng úy Егоров H. Е. ) cũng đã thực hiện phát bắn ngư lôi 53-27. Ngư lôi cũng bị chẹch sang phải nhưng không đi lên bờ.
Cả đội viên bắn ngư lôi thượng úy Окунев và cả chỉ huy hải đội tàu ngầm trung úy hải quân Субботин đã không rút ra kinh nghiệm gì từ điều trên và đã tiếp tục bắn theo hướng cũ và hậu quả là ngư lôi bị hư hỏng.
Cần phải nhớ lại rằng trong lữ đoàn tàu ngầm số lượng tai nạn và hư hỏng của ngư lôi tăng một cách bất thường (tổng cộng 12 trường hợp, trong đó có một trường hợp ngư lôi 45-12 bị chìm, hai trường hợp bị hư hỏng thiết bị Обри, hai trường hợp hư hỏng thiết bị thủy tĩnh và các trường hợp khác.)
Chỉ vào phút chót đã xảy ra thêm hai trường hợp bất thường với ngư lôi: trên tàu ngầm Д-1 (thuyền trưởng trung úy hải quân Ельтищев) ngư lôi 53-27 đã được chuẩn bị trong thiết bị phóng và chỉ nhờ có sự ngẫu nhiên mới có thể còn lại nguyên vẹn, trong thời gian làm việc với ngư lôi trong kho chứa đã làm hư hỏng thiết bị Обри (trường hợp thứ 3)
Tất cả điều này nói lên rằng một phần của các ngư lôi trong lữ đoàn đã từ lâu không còn được hoạt động tốt nữa.
Mặc dù có những khuyến cáo trong các mệnh lệnh nhưng Окунев đã không chấn chỉnh lại trong công việc của mình.
Thay vì kiên trì làm việc với thành viên tàu ngầm để nâng cao chất lượng chuẩn bị tác chiến, giảm tai nạn vũ khí, ngư lôi, nâng cao chất lượng bảo quản vũ khí quân sự. Tư lệnh hạm đội đã lệnh cho:
Thuyền trưởng và ủy viên quân vụ lữ đoàn tàu ngầm phải tự thân mình học cách năng cao chất lượng hoạt động của vũ khí, ngư lôi của lữ đoàn.
Chỉ huy hải đội tàu ngầm số 4 trung úy Субботин vì chuẩn bị thao trường không đúng ставлю на вид
Đội viên đánh mìn của lữ đoàn thượng úy Окунев vì công việc không tốt và không thực hiện lệnh của tôi (bị cách chức và hạ xuống chức vụ thấp hơn)
Đội viên đánh mìn của bộ tham mưu hạm đội Bắc trung úy hải quân Смирнов thường xuyên kiểm tra tình trạng vũ khí, ngư lôi của lữ đoàn, hỗ trợ hàng ngày trong chấn chỉnh công việc.
Kỹ sư quân khí Калмыков kiểm tra tình trạng và vận hành chính xác của vũ khí, ngư lôi của lữ đoàn.
Tư lệnh hạm đội Bắc thiếu tướng Дрозд
Ủy viên hội đồng quân sự hạm đội Bắc chính trị viên lữ đoàn Масалов
Tham mưu trưởng hạm đội Bắc đại tá Голубев]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-918, оп. 1, д. 110 (tai nạn, hư hỏng và sự cố của các tàu ngầm lữ đoàn tàu ngầm hạm đội Bắc trong năm 1939) [tai nạn trong năm 1939
10 tháng 3 năm 1939 №0251 thành phố Мурманск
№ ПЛАварииПоломкиПроисшествияИтого
Hải đội tàu ngầm số 2 (chỉ huy thiếu tá Колышкин)
Щ-401 2 30032
{ thuyền trưởng trung úy hải quân Шуйский (24 tháng 8 năm 1938 – 23 tháng 11 năm 1939), từ 01 tháng 09 năm 1939 đến 25 tháng 04 năm 1940 được sửa chữa vừa}
Щ-402 0 19 2 21
{ thuyền trưởng trung úy hải quân Бакунин (17 tháng 4 năm 1936 – 01 tháng 09 năm 1939), thượng úy Столбов Николай Гурьевич (29 tháng 10 năm 1939 – 14 tháng 8 năm 1942) }
Щ-403 2 17 0 19
{ thuyền trưởng trung úy hải quân Ельтищев (24 tháng 7 năm 1938 – 29 tháng 10 năm 1938)
Щ-404 1 13 0 14
{ thuyền trưởng trung úy hải quân Иванов (16 tháng 12 năm 1938 – 06 tháng 03 năm 1943)
№ ПЛАварииПоломкиПроисшествияИтого
Hải đội tàu ngầm số 3 (chỉ huy thiếu tá Георги)
Щ-421 1 9 1 11
{ thuyền trưởng trung úy hải quân Егоров (05 tháng 11 năm 1937 – 13 tháng 04 năm 1940)}
Щ-422 0 10 2 12
{ thuyền trưởng trung úy hải quân Денисов (04 tháng 3 năm 1939 – 20 tháng 11 năm 1940)}
Щ-423 0 2 0 2
{ thuyền trưởng trung úy hải quân Кейсерман (07 tháng 7 năm 1938 – 29 tháng 10 năm 1939), trung úy hải quân Быстров (29 tháng 10 năm 1939 – 27 tháng 01 năm 1941)}
Д-1 2 1 0 3
{ thuyền trưởng trung úy hải quân Августинович (24 tháng 6 năm 1938 – 29 tháng 10 năm 1939), trung úy hải quân Ельтищев (29 tháng 10 năm 1939 – 13 tháng 11 năm 1940)}
____________________________________________________________________
Итого 3 22 3 28
Trưởng phòng ТО СФ trung tá Домулевский
Kỹ sư trưởng hạm đội tàu ngầm Рачков]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-918, оп. 1, д. 110, л. 115 [ Cho trưởng phòng ТО СФ
2 tháng 4 năm 1940 thành phố Мурманск
Vào tháng 3 năm 1940, ngài được gửi tài liệu về kết quả kiểm tra tình trạng và vận hành trang bị ngành 5 của lữ đoàn tàu ngầm theo số № 0251
Từ tài liệu được gửi thấy rõ rằng, trên tàu ngầm Щ-401, Щ-402 và Щ-403 trong năm 1939 đã có những chỗ bị hư hỏng tương ứng với 32, 21 và 19.
Ngài cần chuyển thêm đến ТУ ВМФ những tài liệu sau: miêu tả về tai nạn và hư hỏng của những tàu kể trên, thời gian hư hỏng, tình trạng, nguyên nhân, biện pháp khắc phục, người mắc lỗi và những kết luận rút ra trong từng trường hợp cụ thể. Xin đừng làm chậm việc gủi tài liều đi.
Trưởng phòng ТУ НКВМФ kỹ sư quân giới Разумов]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-92, оп. 2, д. 510, л. 10 [Tạp chí lịch sử các hoạt động quân sự 16 tháng 12, 12.30. Thuyền tiếp ứng Смольный – tham mưu trưởng hạm đội Baltic. Thuyền trưởng tàu ngầm C-5 (trung úy hải quân Пасхин) có vết loét dạ dày, anh ta sẽ không đi biển, đề nghị bổ nhiệm trợ lý tàu ngầm K-22 Бащенко hoặc thuyền trưởng tàu ngầm Л-1 (trung úy hải quân Могилевский) (№1245)]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-92, оп. 2, д. 510, л. 37 [Tạp chí lịch sử các hoạt động quân sự, 19 tháng 12, 02.45. tham mưu trưởng hạm đội Baltic. Thuyền trưởng tàu ngầm C-5 ở bệnh viện, yêu cầu thay thế. Thuyền trưởng tàu ngầm Щ-310 (thượng úy Овечкин) bị đau trong thời gian tiếp theo, cũng cần được thay thế.]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-979, оп. 2, д. 8, л. 1-6 (Bộ tham mưu lữ đoàn tàu ngầm hạm dội Bắc, báo cáo tổng hợp của bộ tham mưu lữ đoàn tàu ngầm hạm đội Bắc về hoạt dộng quân sự của các tàu ngầm hạm đội Bắc trong giai đoạn chiến tranh với Phần lan. 30 tháng 11 năm 1939 – 13 tháng 3 năm 1940) ,trang 1-3
[chứng nhận: 29 tháng 3 năm 1940
Lữ trưởng lữ tàu ngầm hạm đội Bắc trung tá Павлуцкий
ủy viên quân sự lữ đoàn tàu ngầm hạm đội BắcПеккер]
Tổng cộng các hoạt động quân sự của lữ đoàn tàu ngầm từ 30 tháng 11 năm 1939 đến 13 tháng 3 năm 1940. Giai đoạn hoạt động quân sự xảy ra trước sự phục vụ của lữ đoàn tàu ngầm có 3 trận địa cố định và một thay đổi đã làm cho tiêu tốn nhiều nguồn năng lượng. Trong các điều kiện phân tán ở vũng Оленья và Большая Волоковая, kế hoạch bảo trì sửa chữa không được chú ý. Trong thời gian hoạt động quân sự xuất hiện việc cần phải sửa chữa các tàu ngầm hoặc đưa về theo quy tắc, với thượng tầng bị phá hoại, tấm rẽ sóng bị rách … - tàu ngầm trên thực tế không được sửa chữa theo kế hoạch mà chỉ sửa chữa hàng hải. Theo quy tắc , khi chuẩn bị tác chiến ở căn cứ, loại hình sửa chữa này cần 5 đến 10 ngày.
Việc điều khiển tàu ngầm được thực hiện bằng mệnh lệnh từ lữ đoàn tàu ngầm. Cung ứng quân sự cho tàu ngầm đã không được cấp vì không đủ tàu nổi. Tàu ngầm trong thời gian ban ngày đi theo tuyến tuần tiễu trên mặt nước. Các tàu ngầm đến giữa tháng 12 được sử dụng trên trận địa cố định ở Вардэ, sau đó là sự thay đổi trận địa từ Вардэ đến Нордкап.
Khi bắt đầu hoạt động quân sự thì sự liên lạc với các tàu ngầm qua căn cứ РТС đã không được bảo đảm và không tin tưởng. Nguyên nhân – sự ít thao tác của các nhân viên vô tuyến điện. Theo bảng biểu chuyên môn tàu ngầm có thời gian 1/2 tiếng trong ngày để báo cáo đối với việc kết nối và liên lạc không gian vô tuyến. Khoảng cách lớn nhất của tàu ngầm cách căn cứ là 190 dặm theo đường thẳng. Sự thiếu РТС ở lữ đoàn tàu ngầm đã tăng thời gian đến của РДО, thời gian trung bình khoảng 45 đến 90 phút, nhưng có vị trí từ 100 đến 134 phút.
Đường theo dõi tàu ngầm đã bị giới hạn hành lang. Việc gặp được tàu ngầm trên hành trình đã không xảy ra.
Điều kiện bơi
Tình hình khí tượng phức tạp bất thường. Thời tiết bão 18 -19 ngày trong tháng, tầm nhìn kém đến 20-22 ngày. Nhiệt độ giao động mạnh: trung bình trong tháng từ -40 đến -110C. Lượng mây đến 90% các ngày trong tháng.
Các dòng chảy thay đổi mạnh dưới tác động của gió. Việc di chuyển của tàu đã diễn ra trong điều kiện đêm cực, chủ yếu là tầm nhìn kém ở trên bờ, đặc biệt dưới tuyết phủ và sự giới hạn thiết bị của chiến trường. Các ngọn hải đăng chuyển sang sử dụng bằng tay. Vì sự liên lạc kém, việc cung ứng cho các tàu không được toàn diện. Các ngọn hải đăng của Nauy đã bị tắt vào tháng 2.
Việc chuẩn bị của các hoa tiêu về tổng thể là chưa đủ. Quan sát thiên văn là không đủ. Tàu ngầm Щ-421 bị mắc cạn và tàu ngầm M-176 mất vị trí.
Những khuyết điểm kỹ thuật
Khuyết điểm chung – bắn tia lửa của động cơ diesel, đối với tàu ngầm loại «Щ» khuyết điểm chung là hư hỏng của tấm rẽ sóng, thượng tầng, bệ súng.
Phần bảo vệ mui tàu ngầm loại «Щ», seria X không phá sóng mà còn nhận sóng vào, nó lăn đi qua đài chỉ huy, nước tràn vào bốt trung tâm, mui tàu và phá xập thượng tầng ở đuôi
Không đạt yêu cầu về kết cấu của máy bơm xả nước thải của két khớp thủy lực, nó cần được sửa chữa nhiều hơn là làm việc, đã sử dụng máy bơm của hầm đuôi. Đã phát hiện sự trượt lớn của khớp thủy lực cho dù van của khớp thủy lực đã được thay thế hầu như là hàng tháng.
Đã có hai trường hợp nước bắn vào thiết bị điện trên tàu ngầm loại «Щ» 422 và 404, việc chỉnh sửa mà không cần đến tháo dỡ bộ nạp ắc quy mất 6 ngày, đối với tàu ngầm loại «М» đó là hiện tượng phổ biến. Khi sóng cấp 5-6 tàu ngầm loại «М» cần ra khỏi trận địa và tránh bão. Độ nghiêng mạn được quan sát thấy ở 520. Điều này làm sáng tỏ rằng trong 105 ngày chiến đấu thì tàu ngầm loại «М» chỉ tham gia trên chiến trường có 43 ngày.
Đặc biệt đối với tàu ngầm seria XII bị ảnh hưởng bởi sóng nhiều nhất vì mui tàu thấp, khi sóng cấp 4-5 tàu bị bắn nước và nước rơi vào bốt trung tâm. Tàu ngầm M-172 và M-175 có trường hợp trục Митчель bị hỏng nhưng đã không rời khỏi trận địa. Tình trạng chung của các tàu ngầm là sự cách điện của các thiết bị điện và cơ điện. Các thiết bị công suất thấp, thước đo góc lái, đồng hồ chỉ thị, máy điện báo thường xuyên bị hư hỏng.
Các thuyền viên đã vận hành tốt các hệ thống máy móc và có hiểu biết tốt đối với chúng.
Kết luận:
Khi bắt đầu chiến sự các thiết bị của tàu ngầm đã khá cũ
Происшедшие накануне перемещения начсостава сказались на боеготовности ПЛ.
Trong những điều kiện của chiến trường phía bắc, trong đêm tối tính tự động của tàu ngầm seria X cần được tính trong 15-16 ngày, tàu ngầm seria XII – trong 5 ngày.
Trong điều kiện đêm cực, lúc chạng vạng thì tầm nhìn xa của tàu ngầm ở trạng thái lặn thực tế bằng không. Trong trạng thái nổi, trong điều kiện tầm nhìn xa kém và việc chuyển động của tàu bị che tối – việc sử dụng tàu ngầm sẽ có ít hiệu quả.
Việc sử dụng tàu ngầm loại «М» ở biển Баренцев phải xem xét lại. Hiệu quả sử dụng trang thiết bị rất thấp và gây căng thẳng cho các thuyền viên.
Обмерзание không làm hạn chế hoạt động tàu ngầm dưới nước trong khu vực Вардэ – Нордкап, nhưng ảnh hưởng đến hành trình đến vịnh Кольский.
Để tăng cường việc kiểm soát tàu ngầm qua bộ tham mưu của lữ đoàn tàu ngầm cần tăng cường sự thông qua các РДО từ РТС đến người nhận, đặc biệt tổ chức các trạm tiếp nhận trên lữ đoàn tàu ngầm, để làm điều này cần trang bị cho lữ đoàn những máy thu tốt.
Những khuyết điểm kỹ thuật cần được khắc phục: sự phóng điện của bộ tiêu âm, thay thế máy bơm của hệ thống khớp thủy lực, ưu việt hóa phần bảo vệ mui tàu ngầm seria V-6uc-2 so với tàu ngầm seria X. Thượng tầng yếu của các tàu seria X. Trên tàu loại «М» làm lại phần bảo vệ mui tàu đối với các tàu M-171, M-172 và M-173. Sự bao bọc bộ ắc quy không đạt yêu cầu.
Các hoa tiêu còn thiếu kinh nghiệm, thiếu tổ chức công tác bảo đảm dẫn đường và ít nghiên cứu khu vực di chuyển của tàu ngầm nên không thể bảo đảm hoàn toàn sự dẫn đường cho tàu trong những tình hình phức tạp.
Quân phục đi đường mà đặc biệt là của phiên gác trên cần được thay thế bằng cách thiết lập các mẫu ở phiên họp chuyên ngành từ kinh nghiệm của hạm đội Baltic và hạm đội Bắc.
Các thuyền viên cần có sự tôi luyện, có thái độ kỹ càng khi sử dụng các trang thiết bị, không có những sai lầm về quy trình nghiêm trọng khi bảo dưỡng máy móc. Không có những sự cố của các bộ phận cơ điện và phải bỏ trận địa vì nguyên nhân này.
Tham mưu trưởng lữ đoàn tàu ngầm hạm đội Bắc thiếu tá Георги]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-397, оп. 2, д.222 (Bộ tham mưu hạm đội biển đen, phòng chuẩn bị tác chiến số 2), trang 140, 141 [26 tháng 3 năm 1940 №420c Севастополь hạm đội biển đen
Bản báo cáo về sự hư hỏng ngư lôi trong thời gian bắn diễn tập
21 tháng 3 năm 1940 trong khu vực chuẩn bị tác chiến số 6 để thực hiện tấn công ngư lôi đối với tàu rà quét mìn Мина thì tàu ngầm A-4(thuyền trưởng thượng úy Касаткин) đã phóng ngư lôi với đầu ngư lôi huấn luyện.
Những ngư lôi trên tàu ngầm loại «АГ» 45-07, 45-15 vì bị mài mòn (có sự bắn chỉnh hướng trong năm 1912 -1914) cho dù đã cẩn thận chuẩn bị nhưng đã không cho tất cả sự tin tưởng về độ chính xác quỹ đạo của ngư lôi
Lữ trưởng lữ đoàn tàu ngầm số 2 hạm đội biển đen trung tá Соловьёв
Trưởng phòng chính trị lữ đoàn tàu ngầm số 2 hạm đội biển đen Аушев]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-1678, оп. 1, д. 170 (báo cáo cho chính phủ về những tai nạn bất thường, 01 tháng 1 – 31 tháng 12 năm 1940), trang 45 [05 tháng 5 năm 1940 tàu ngầm M-13 (thuyền trưởng thượng úy Ветчинкин Павел Петрович) đang truy đuổi trong khi đi tuần ở vịnh Петра Великого một tàu lạ]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-397, оп. 2, д. 222, л. 235
[2 tháng 6 năm 1940 №0044 vịnh Севастополь
10 tháng 5 năm 1940 trên tàu ngầm Щ-213 (hải đội tàu ngầm 33, lữ đoàn tàu ngầm 3, hạm đội biển đen) đã xảy ra hư hỏng bánh vít của pháo 45/46 № 736
Thuyền trưởng tàu ngầm Щ-213 thượng úy Денежко
Quân ủy tàu ngầm Щ-213 chính ủy В. Смирнов]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-397, оп. 2, д. 222 (bộ tham mưu hạm đội biển đen, phòng chuẩn bị tác chiến số 2) trang 270 [ 21 tháng 5 năm 1940 tàu ngầm Щ-211 (thuyền truongr trung úy hải quân Карбовский) – gặp sự cố và hư hỏng. Khi thực hiện bài tập số 10 của tàu ngầm tuần tiễu đã bắn loạt ngư lôi №1121 và №1145. Những ngư lôi này khi đi được quãng đường 8 cabentôp (1482,4 m) đã va vào nhau trên hành trình. Ngư lôi №1145 đã đâm vào ngư lôi №1121 bằng đầu đạn ngư lôi vào phía đuôi giữa cánh lái. Ngư lôi №1121 có vận tốc hành trình theo hồ sơ là 43,9 hải lý, còn của ngư lôi №1145 là 44,4 hải lý.
Hành động của thuyền viên: đã chuẩn bị ngư lôi để bắn tương ứng với các dữ liệu hồ sơ của ngư lôi, thiết bị phóng lôi được kiểm tra, khoảng thời gian duy trì của hộp tự động là 2 giây.
Hậu quả của hỏng hóc: ngư lôi №1121 – bị cong mạnh ở cánh quạt chân vịt trước, bánh lái ngang bị gãy, có lỗ thủng trên phần đuôi. Ngư lôi №1145 – có vết móp và xây sát phía dưới của УЗО
Nguyên nhân hỏng hóc: va chạm ngư lôi trên hành trình sau 8 cabentôp (gần 1500m) cách điểm bắn – độ sai lệch vận tốc hành trình là 0,5 hải lý và ngư lôi №1145 bị lệch hướng không đáng kể . Không có lỗi của thuyền viên tàu ngầm]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-1090, оп. 5, д. 76, л. 210 [Mệnh lệnh cho lữ đoàn tàu ngầm số 2. Nội dung: về tình trạng xấu của động cơ điện chính trên tàu ngầm M-4 và sự trừng phạt đối với người mắc lỗi.
29 tháng 5 năm 1940 №044 Малый Улисс
25 tháng 5 năm 1940 khi kiểm tra động cơ điện chính trên tàu ngầm M-4......
Cho trưởng ngành 5 Лапицкий – bị khiển trách.
Cho thuyền trưởng tàu ngầm M-4 thượng úy Иващук – bị khiển trách.
Chỉ huy trưởng hải đội tàu ngầm 21 thiếu tá Петров
Quân ủy hải đội tàu ngầm 21 chính ủy tiểu đoàn Ильичёв
Lữ trưởng lữ tàu ngầm số 2 hạm đội thái bình dương trung tá Чабаненко
Quân ủy lữ tàu ngầm số 2 hạm đội thái bình dương chính ủy trung đoànП. Быков
Tham mưu trưởng lữ tàu ngầm số 2 hạm đội thái bình dương trung tá Курносов]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф.р-970, оп. 2, д. 171 (Mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc. 01 tháng 1 – 31 tháng 12 năm 1940), trang 161, 162 [Mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc, nội dung: thực hiện mệnh lệnh quân ủy hải quân số 0555, 0605 và 0240.
27 tháng 6 năm 1940 №0210 thành phố Полярное
Tàu ngầm Щ-422 (thuyền trưởng trung úy hải quân Денисов) đã đưa vào sửa chữa thường kỳ 20 tháng 5 năm 1940, bản kê khai sửa chữa đã được đưa lên chậm 1 tháng. Tàu ngầm Д-1 đã trình báo bản kê khai sửa chữa chất lượng không tốt, nó được trả về ngày 08 tháng 5 năm 1940.
Trong lữ đoàn tàu ngầm có trường hợp vượt quá định mức quy định (hoạt động của hệ thống máy móc), trên tàu ngầm Д-1 (thuyền trưởng trung úy hải quân Ельтищев) đến ngày 10 tháng 06 năm 1940 động cơ diesel đã hoạt động 1272 giờ, mỗi động cở theo định mức cả năm là 1000 giờ.
Hệ thống khai thác trang thiết bị như vậy làm cho tàu bị hao mòn sớm các hệ thống máy móc và tính hỏng hóc lớn.
... trên tàu ngầm Щ-403 (thuyền trưởng trung úy hải quân Коваленко) trong quá trình hạ thủy bằng đà trượt đã phát hiện ra một dãy các lỗ thủng ngoài mạn và nước tràn vào các khoang. Cũng trên tàu này các vết xước pittông của xilanh số 8 của động cơ diesel bên mạn phải.
Trên tàu ngầm Щ-402 (thuyền trưởng thượng úy Столбов) và tàu Щ-403 nước đã bắn vào hầm của khoang thứ 2 và động cơ điện máy nén khí cao áp.
Trên tàu ngầm Щ-402 và Щ-422 vòng bi, trên khớp Митчелъ, trên động cơ điện thứ 2 ở mũi bị подплавлены.
Trên tàu ngầm M-175 (thuyền trưởng trung úy hải quân Егоров П. И.) bánh lái thẳng đứng bị hư hỏng vì cầu chì bị cháy do sự chểnh mảng bảo dưỡng.
Tư lệnh hạm đội Bắc thiếu tướng Дрозд
Thành viên hội đồng quân sự hạm đội Bắc chính ủy hải đội Смирнов
Tham mưu trưởng hạm đội Bắc đại tá Голубев]
07,09 tháng 7 tàu ngầm K-21 thuyền trưởng thiếu tá (31 tháng 10 năm 1939) Тузов Иван Николаевич (23 tháng 9 năm 1939 – 07 tháng 8 năm 1940)
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-92, оп. 11, д. 107, л. 10 [Biên bản của hội đồng – chủ tịch đại tá Иванов
Các thành viên: thuyền trưởng tàu ngầm K-21 thiếu tá Тузов, trưởng ngành 5 tàu ngầm K-21 trung úy Сапунов.
Lập biên bản hiện tại theo việc kiểm nghiệm quốc gia của thiết bị mìn trên tàu ngầm K-21 (từ 07 tháng 8 năm 1940 là trên tàu ngầm K-22)
6 tháng 7 năm 1940 tàu ngầm K-21 trên thao trường số 18 được cung cấp 12 quả mìn diễn tập ЭП-36, vị trí của tàu ngầm là dưới kính tiềm vọng , độ sâu 10 m, vận tốc 4 hải lý, mìn được chuẩn bị cho sự nổi lên.
Từ 12 quả mìn có 9 quả nổi lên, 3 quả bị chìm (không tách khỏi neo). 09 tháng 7 năm 1940 tàu ngầm K-21 cũng trên thao trường trên từ trạng thái nổi, vận tốc 4 dặm cũng đã đưa thêm 8 quả mìn nữa, trong đó có 4 quả nổi lên và 4 quả bị chìm, tất cả mìn cũng đã được chuẩn bị cho nổi lên, nguyên nhân chính xác của sự chìm mìn sẽ được bàn đến sau khi vớt chúng lên
Chủ tịch hội đồng đại tá Иванов
Thuyền trưởng tàu ngầm K-21 thiếu tá Тузов
Trưởng ngành 5 tàu ngầm K-21 trung úy Сапунов.]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-92, оп. 11, д. 107, л. 11
[Cho tham mưu trưởng hạm đội Baltic thiếu tướng Пантелев
Cho viện trưởng viện nghiên cứu khoa học mìn - ngư lôi kỹ sư lữ đoàn Курников
Cho đội trưởng đội ВСПК hạm đội Baltic đại tá Виноградов
Từ Флагманского минёра отряда ВСПК trung úy hải quân Глуховцев
Báo cáo
Báo cáo về nguyên nhân bị chìm của mìn ЭП-36 trong ngày 07 và 09 táng 7 năm 1940. Hai quả mìn đã tách khỏi neo theo lỗi chủ quan của người chuẩn bị mìn. Quả mìn thứ 6 đã không được đóng then chốt của neo. Quả mìn thứ 16 đã được lắp chốt thép thay cho chốt đồng của đòn bẩy thẳng đứng. Bộ giảm tốc hoạt động nhưng không đủ sức để cắt chốt thép. Quả mìn thứ 5 không bị hư hỏng nắp an toàn của bộ giảm tốc khi mìn ra khỏi tàu.
Những quả mìn được chuẩn bị bởi xưởng số 95 dưới sự chỉ đạo của kỹ sư quân giới Буянов từ viện nghiên cứu khoa học mìn - ngư lôi.
Đội viên đánh mìn của đội ВСПК hạm đội Baltic trung úy hải quân Глуховцев][mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội bắc thái bình dương
13 tháng 09 năm 1940 №00191 thành phố Совгавань
Vào ngày 10 tháng 7 năm 1940 trên tàu ngầm M-46 thuyền trưởng thượng úy Сафронов cho bắn đại bác về hướng phát hiện ra kính tiềm vọng của tàu ngầm Щ-117 - đang tiến vào vịnh Валентина để thực hiện nhiệm vụ.
Tư lệnh hạm đội bắc thái bình dương thiếu tướng Арапов]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-970, оп. 2, д. 171 (mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc. 01 tháng 1 – 31 tháng 12 năm 1940), trang 242 [mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc. Nội dung: về những trường hợp vi phạm những hướng dẫn, điều lệ và quy tắc hiện có.
27 tháng 8 năm 1940 №0310 thành phố Полярное
25 tháng 8 năm 1940 trực ban tác chiến của bộ tham mưu hạm đội Bắc thượng úy Саблин, đã không báo cáo cho tham mưu trưởng hạm đội thiếu tướng Кучеров , vào lúc 17.00 đã tự đưa ra quyết định cho tàu ngầm Д-404 đi ra khỏi căn cứ và đến trận địa để thay tàu ngầm M-176, trực ban tác chiến đã vi phạm điều lệ hiện có của bộ tham mưu hạn đội, nghiêm cấm việc lệnh cho tàu được ra khơi mà không có bản báo cáo sơ bộ cho tham mưu trưởng hạm đội Bắc, và không tính đến việc thay thế tàu diễn ra trong thời gian tối trong ngày là mâu thuẫn với yêu cầu căn bản của quy tắc an toàn của hồng quân Xô Viết (РККА) (chương 3, trang 86) về việc thay thế tuần tiễu.
Trung úy hải quân Матвеев, đã nhận trực tác chiến từ thượng úy Саблин, tình huống này trên chiến trường không quán triệt một cách thảo đáng, hệ quả là đã không báo cáo cho tham mưu trưởng hạm đội rằng tàu ngầm Щ-404 đi đến chiến trường mà không có sự cho phép và sự thay thế tuần tiễu sẽ xảy ra vào ban đêm. Thêm nữa lữ trưởng lữ tàu ngầm trung tá Павлуцкий đã trả lời câu hỏi của tôi , «tại sao việc thay thế tàu ngầm được thực hiện vào ban đêm» - đã báo cáo rằng đây là lần đầu tiên xảy ra tức là bỏ qua sai lầm trong bản báo cáo.
Kỷ luật:
Lữ trưởng lữ tàu ngầm trung tá Павлуцкий – vì đã vi phạm chương 3, trang 86 của quy tắc an toàn của hồng quân Xô Viết (РККА) và sự dung túng đối với sự vi phạm điều lệ.
Tham mưu trưởng lữ đoàn tàu ngầm trung tá Смирнов – vì đã vi phạm yêu cầu của điều lệ trong sự thay thế tàu ngầm tuần tiễu.
Trung úy hải quân Матвеев – vì sự hiểu biết kém tình hình trên chiến trường trong thời gian thi hành trục ban tác chiến cho bộ tham mưu hạm đội Bắc.
Thượng úy Саблин – vì đã vi phạm quy tắc của trực ban tác chiến cho bộ tham mưu hạm đội Bắc.
Tư lệnh hạm đội thiếu tướng Головко
Thành viên hội đồng quân sự hạm đội Bắc chính ủy lữ đoàn Николаев
Tham mưu trưởng hạm đội Bắc thiếu tướng Кучеров]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-1848, оп. 3, д. 32, л. 462 [ mệnh lệnh của lữ trưởng lữ tàu ngầm số 1 hạm đội Bắc.
13 tháng 9 năm 1940 №427 Севастополь.
Trong việc thi hành mệnh lệnh của chính ủy hải quân Кузнецов về việc đưa ra tòa án quân sự các cá nhân đã gây nên lầm lỗi, không thi hành mệnh lệnh và tự ý nghỉ phép theo nghị định của chính phủ tôi ra lệnh nhất quyết nghiêm cấm các cán bộ chỉ huy lãnh đạo thi hành kỷ luật vì các lỗi lầm kể trên,.
Khuyến cáo tất cả cán bộ chỉ huy rằng việc không thi hành chỉ thị của chính ủy sẽ được xem xét giống như sự che giấu tội phạm.
Mệnh lệnh áp dụng cho tất cả các cá nhân trong tổ chức.
Lữ trưởng lữ tàu ngầm số 1 hạm đội biển đen đại tá Бурмистров]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-397, оп. 2, д. 222 (bộ tham mưu hạm đội biển đen, phòng chuẩn bị tác chiến số 2), trang 361
[báo cáo bất thường về tai nạn của khẩu đại bác bán tự động 45/46 trên tàu ngầm A-5 (hải đội tàu ngầm số 24, lữ đoàn tàu ngầm số 2, hạm đội biển đen) trên biển ngày 19 tháng 9 năm 1940. Thuyền trưởng tàu A-5 trung úy hải quân Чебышев. ]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-397, оп. 2, д. 222 (bộ tham mưu hạm đội biển đen, phòng chuẩn bị tác chiến số 2) ,trang 386
[báo cáo bất thường về sự hư hỏng ngư lôi trên tàu ngầm tàu ngầm Л-5 (hải đội tàu ngầm số 12, lữ đoàn tàu ngầm số 1, hạm đội biển đen) ngày 25 tháng 9 năm 1940. Thuyền trưởng tàu Л-5 trung úy hải quân Жданов.]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-970, оп. 2, д. 170 (mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc. Nội dung: về sự đủa ra tòa kỷ luật đối với người vi phạm quy tắc liên lạc vô tuyến trong loạt bài huấn luyện số 3.
7 tháng 10 năm 1940 №0398 thành phố Полярное
Trong loạt bài huấn luyện số 3, thực hiện trong ngày 23 và 24 tháng 9, đã có nơi trường hợp vi phạm nghiêm trọng quy tắc trao đổi thông tin.
Trên tàu ngầm Щ-401, Щ-402, Щ-422 vì chểnh mảng ca gác của nhân viên vô tuyến điện đã không nhận được tín hiệu và sự bắt đầu huấn luyện
Trên tàu ngầm Щ-404 nhân viên vô tuyến điện trực gác Евстигнеев vì sự chển mảng của mình đã không nhận những cuộc gọi đến từ Полярное, cho dù đìa vô tuyến trên tàu ngầm đã được chỉnh sửa.
Trên tàu ngầm Щ-401 trưởng phòng phục vụ mã hóa - tham mưu Масюков trong thời gian 4 tiếng đã không báo cáo cho thuyền trưởng tàu ngầm bức điện vô tuyến đã được nhận và mã hóa.
Chỉ huy trung tâm tiếp nhận trung úy Чекалов đã truyền đi một lần thay vì phải là 3 lần tín hiệu về sự bắt đầu huấn luyện.
Vì vi phạm quy tắc trao đổi thông tin mà trung úy Чекалов bị khiển trách nghiêm khắc.
Vì sự chuẩn bị kém cho loạt huấn luyện, vì sự yếu kém về kỷ luật vô tuyến về liên lạc vô tuyến điện trên tàu ngầm mà nhân viên vô tuyến của lữ đoàn tàu ngầm trung úy Болонкин bị khiển trách nghiêm khắc.
Đối với những người mắc lỗi khác thì giao cho lữ trưởng tàu ngầm thi hành kỷ luật theo quyền hạn của mình.
Tư lệnh hạm đội Bắc thiếu tướng Головко
Thành viên hội đồng quân sự hạm đội Bắc chính ủy lữ đoàn Николаев
Tham mưu trưởng hạm đội Bắc thiếu tướng Кучеров]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-397, оп. 2, д. 222 (bộ tham mưu hạm đội biển đen, phòng chuẩn bị tác chiến số 2) ,trang 375 [báo cáo bất thường về hư hỏng của ngư lôi 53-27 trên tàu ngầm Щ-213 ngày 15 tháng 10 năm 1940 thuyền trưởng tàu A-5 trung úy hải quân Денежно
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-92, оп. 11, д. 107, л. 11-13
[21 tháng 12 năm 1940 №1оп/528с thành phố Кронштадт
Cho tham mưu trưởng hạm đội Baltic thiếu tướng Пантелеев
Trong đầu tháng 12 chủ tịch hội đồng nghiệm thu tàu ngầm K-21 đại tá Косьмин đã yêu cầu tôi cho phép ông ta thực hiện những thử nghiệm hệ thống mìn của tàu ngầm lần cuối cùng, cung cấp cho ông ta tàu nổi để thực hiện thử nghiệm, bởi vì trên vịnh đã xuất hiện băng đá còn nhiệt độ đã âm độ, tôi đã giải thích cho đại tá rằng các thử nghiệm sẽ được di dời vào căn cứ khác hoặc để đến mùa xuân năm tới.
Chủ tịch hội đồng nghiệm thu tàu ngầm đã không đồng ý với lý lẽ của tôi và đã xây dựng cho việc thực hiện thử nghiệm, 11 tháng 12 năm 1940 tôi đã nhận từ ngài thư chỉ thị (điện mã số 1400, 2015 8.12. 1940.) thực hiện thử nghiệm, cung cấp cho ông ta tàu quét mìn, tôi đã thi hành mệnh lệnh.
9 tháng 12 tàu ngầm К-21 và hai tàu quét mìn (Крамбол và Бугель) đã đi thử nghiệm trên thao trường số 9. Thiết bị đã được chuẩn bị cho thử nghiệm trong xưởng Кронпорта bởi các chuyên viên viện nghiên cứu khoa học mìn - ngư lôi, bỏi vì các mìn ЭП-36 không được đưa vào vũ trang.
Tàu ngầm được giao 20 quả mìn, vả lại các mìn cho nổi lên với mục đích giảm xác xuất mất mát và để tăng nhanh quá trình thu dọn chúng.
Những kết quả thực hiện thử nghiệm:
Các hệ thống cơ cấu mìn của tàu ngầm K-21 theo hội đồng nhận xét với điểm đạt yêu cầu.
Từ 20 quả mìn được đưa ra có 15 quả đã nổi lên mặt nước, còn 5 quả mìn bị chìm.
Hội đồng cùng với thuyền trưởng tàu ngầm đã quyết định rằng để đánh dấu vị trí chìm của mìn cần để lại hai quả mìn nổi ở ngoài rìa, còn các quả khác thu về trên tàu quét mìn, tàu ngầm K-21 đã về lại căn cứ.
Khi nhận chỉ thị trên, thuyền trưởng tàu quét mìn «Крамбол» đã quyết định rằng việc để lại mìn trên mặt nước là nguy hiểm và ra lệnh thu lại 14 quả mìn, để lại trên mặt nước 1 quả. Kết quả là đã thu về 14 vỏ mìn và 13 mỏ neo, một quả mìn đã được để lại ở vị trí bố trí, còn để thay thế quả mìn thứ 2 thì sào ngắm đã được đưa ra. Tàu quét mìn Крамбол và Бугель đã đưa mìn về Кронштадт ngày 12 tháng 12 năm 1940 vào lúc 01.00 và vào lúc 04.30 chúng đã đi đến Таллин.
Biết rằng, tàu cứu hộ Трефелев có mặt trên biển trong khu vực Сейвест, và qua bộ phận khảo sát hoạt động chức năng đặc biệt ngầm (ЭПРОН) đã ra chỉ thị thuyền trưởng tàu cứu hộ Трефелев – thu các quả mìn trôi và vớt 5 quả mìn chìm dưới đáy lên. Công việc này đã không được hoàn thành vì tàu cứu hộ Трефелев theo việc lý giải sau đây đã được gủi đến để giúp đỡ cho ТР Луначарский, bị mắc cạn ở khu vực Лавенсаарa. Khi quay về thao trường số 9 tàu cứu hộ Трефелев đã bị bao phủ trong băng tuyết và việc cử tàu để nâng nó lên là không thể được.
13 tháng 12 năm 1940 đã ra chỉ thị cho thuyền trưởng tàu quét mìn – 218 vớt các quả mìn trôi trên thao trường số 9 lên tàu.
Kết quả tìm kiếm là không tốt, trong khu vực thao trường đã xuất hiện băng trôi.
Cho răng tàu quét mìn – 218 đã điều tra khu vực một cách hời hợt, tôi đã điều thêm tàu quét mìn Барометр ngày 16 tháng 12
Việc tìm kiếm của tàu quét mìn Барометр đã cho kết quả cũng không tốt. Rõ ràng, từ ảnh hưởng của gió mạnh mà mìn bị đứt khỏi neo và trôi khỏi thao trường. Giả định rằng mìn trôi dạt về hướng đông nam, bởi vì gió trong những ngày đó đã có hướng đông nam. Như vậy từ 20 quả mìn được đưa ra huấn luyện thì cong lại trên biển 6 quả mìn và một neo.
15 tháng 12 tôi đã được chuyển bức điện tín đến cho ngài với yêu cầu sử dụng tàu chiến của «khảo sát hoạt động chức năng đặc biệt ngầm» (ЭПРОН) để vớt những quả mìn còn lại lên
Tham mưu trưởng căn cứ hải quân Кронштадт trung tá Зозуля]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-1090, оп. 5, д. 76, л. 486, 487 [mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội biển đen, Nội dung: về sự tai nạn trên các tàu của hạm đội biển đen.
31 tháng 12 năm 1940 №0664 thành phố Севастополь
Qua việc kiểm tra tai nạn các thiết bị cơ điện trong hạm đội biển đen đã thấy xuất hiện nhiều sự cố, hỏng hóc và tai nạn trên các tàu của hạm đội biển đen và cả hạm đội tăng cường.
Trong 11 tháng năm 1940 có 333 sự cố trong đó: tai nạn 47 – từ nguyên nhân trực tiếp của nhân viên là 24, hư hỏng 233- từ nguyên nhân trực tiếp của nhân viên là 81, sự cố 53 – từ nguyên nhân trực tiếp của nhân viên là 29.
Cho dù tai nạn của thiết bị cơ điện theo so sánh với năm ngoái ít hơn, nhưng số lượng hư hỏng và sự cố lại lớn. Đặc biệt không may trên tàu khu trục –x, lữ đoàn tàu ngầm 1 và 3.
Nhiều trường hợp, đã có từ trước lại bị lặp lại như: cháy nồi hơi, chảy dầu từ sự nóng chảy các vòng bi quan trọng, nhiều trường hợp ngập khoang (tàu khu trục «ЖЛ», «БЗ», «БС», «БО», tàu quét mìn Гарпун, Груз, tàu ngầm Д-6, Л-4, Д-5, Щ-207, Щ-209, Щ-211, Щ-213, М-55, М-58, А-1, С-32 và các tàu khác) . Nhiều hư hỏng xuất hiện do hậu quả của việc vi phạm nghiêm trọng quy tắc và tính chểnh mảng trong công việc.
Tư lệnh hạm đội biển đen thiếu tướng Октябрьский
Thành viên hội đồng hạm đội biển đen chính ủy trung đoàn Кулаков
Tham mưu trưởng tạm quyền đại tá Фролов]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-1678, оп. 1, д. 186 (Triệu tập các tư lệnh hạm đội và các phân hạm ngày 02 – 10 tháng 12 năm 1937 Mascova), trang 440 [09 tháng 12 năm 1940 (buổi sáng) chính ủy quân đoàn Игнатьев: số lượn cán bộ biên chế: đến ngày 01 tháng 1 nawm1938 – 19500 người, đến ngày 01 tháng 10 năm 1939 – 28753 người, đến ngày 01 tháng 12 năm 1940 – 35977 người]
Trang 592 [ trong năm 1939 và 1940 chúng ta đã mất 122 máy bay từ hậu quả của thảm họa và tai nạn, Одна Балтика đã mất 44 máy bay.
Số lượng người chết từ thảm họa và tai nạn trong thời gian huấn luyện và làm việc trong 2 năm là 667 người. Còn trên biển Baltic trong thời gian tác chiến đã chết 200 người. Từ 667 người đó trong năm 1939 chúng ta mất 229 người còn trong năm 1940 là 438 người. Đấy là không có chiến tranh và là hậu quả của việc tổ chức kém và lỏng lẻo]
Trang 653 [Kiểm sát trưởng của hải quân Алексеев: nếu như trong năm 1939 trong hải quân đã kết án 883 người, trong đó có cán bộ và sỹ quan trẻ là 279 người, tức là sau 9 tháng năm 1940 đã kết án 3036 người, trong đó sỹ quan trẻ là 509 người]
Trang 665 [Tự sát: trong năm 1939 – 1940 đã xảy ra 200 trường hợp tự sát, ở hạm đội Baltic trong năm 1939 – 37 trường hợp, trong năm 1940 – 48 trường hợp, ở hạm đội biển đen trong năm 1939 – 29 trường hợp, trong năm 1940 – 29 trường hợp, ở hạm đội thái bình dương trong năm 1939 – 32 trường hợp, trong năm 1940 -26 trường hợp, ở hạm đội Bắc trong năm 1939 -1 trường hợp, trong năm 1940 – 5 trường hợp]
Trang 713 [ 10 tháng 12 năm 1940 (phiên họp buổi chiều). Bản báo cáo của chính ủy -tướng Кузнецов: số lượng kỷ luật: ở hạm đội thái bình dương – 58000 kỷ luật, ở hạm đội Baltic – 59000 kỷ luật, ở hạm đội biển đen – 44000 kỷ luật và ở hạm đội Bắc là 12000]. Tổng cộng trong hải quân là 173000 kỷ luật.
PHỤ LỤC 2
Danh sách tai nạn và thảm họa của các tàu ngầm Liên Xô, các chỉ huy và quân ủy của chúng (giai đoạn từ 01 tháng 09 năm 1939 đến 31 tháng 12 năm 1940)
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-1333, он. 1,д. 1,л. 47 [mệnh lệnh của Hội đồng quân sự cách mạng của lực lượng hải quân ở vùng Viễn Đông
13 tháng 5 năm 1934 №0169 thành phố Владивосток
Nội dung: về sự treo cờ hải quân trên tùa ngầm № 32 (зав. № 456).
18 tháng 5 năm 1934 vào lúc 14 giờ trên tàu ngầm loại «Щ» № 456 treo cờ hải quân được thông qua bởi Далъзавод.
Tàu ngầm mang số hiệu 32 và mang tên «Язь», được đưa vào đội hình của hải đội tàu ngầm số 3.
Chỉ huy lực lượng quân sự vùng viễn đông]
Trong trường hợp này tên gọi (Язь) được gắn cho tàu ngầm khi gia nhập nó vào đội hình còn литерное название nó nhận từ 15 tháng 9: Щ-110 (đến ngày 18 tháng 5 năm 1934 tàu ngầm № 456, đến ngày 15 tháng 9 năm 1934 - № 32 Язь)
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-1333, on. 1, д. 1, л. 182 [ mệnh lệnh của Hội đồng quân sự cách mạng của lực lượng hải quân ở vùng Viễn Đông
18 tháng 11 năm 1934 № 041 thành phố Владивосток
18 tháng 11 năm 1934 trên tàu ngầm loại «Щ» № 226 treo cờ hải quân.
Tàu ngầm loại «Щ» № 226 Макрель được đặt cho số hiệu Щ-117 và số hiệu quy ước 2719.
Tàu ngầm Щ-117 được đưa vào đội hình của hải đội tàu ngầm số 5
Chỉ huy lực lượng quân sự vùng viễn đông]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-92, оп. 7, д. 280, л. 586, mệnh lệnh của chính ủy hải quân № 0625 từ ngày 18 tháng 11 năm 1939 «Về sự phân chia tàu chiến của hải quân theo hạng» những tàu ngầm loại К, Л, Ц, П, С, Щ và Л-55 được coi là tàu chiến hạng 2, còn tàu loại Б-2, АГ và М – tàu chiến hạng 3.
Những tàu ngầm loại «A» (trước đây loại «АГ»)
Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại và cách mạng Nga đã bị mất một phần đáng kể (đại đa số) tàu chiến trong đội hình. Tàn tích hải quân đế quốc không bao giờ hùng mạnh, đặc biệt là trên biển đen, đó là một cảnh tượng đáng thương, các tàu đã quá thời. trong số những tàu còn nguyên vẹn có một vài tàu ngầm loại Барс và АГ.
Tàu ngầm loại «A» : 355,7/467 tấn, lượng dự trữ nổi 31%, kíp tàu biên chế 37 người, theo tài liệu khác là 32 người.
________
Бережной С. С., Лысикова Т. Д., Гигаури В. С. và những người khác. Tàu chiến và thuyền bổ sung của hải quân Liên Xô (1917 – 1927): sách hướng dẫn М. Воениздат, 1981., trang 184 [360/470 tấn, 46x4,6m, 12/10 hải lý, 1800/26 dặm, 1-45-mm, 37 người]
Бережной С. С. Tàu chiến và thuyền của hải quân Liên Xô. 1928-1945: Sách hướng dẫn М. Воениздат, 1988, trang 71[360/470, 45,7x4,8x2,7m, 13/8 hải lý, 360/100 dặm, 32 người]
Кучер В. А., Мануйлов Ю. В., Семёнов В. П. Các tàu ngầm của Nga. Lịch sử chế tạo và sử dụng 1834 – 1923. Sổ tay nghiên cứu – lịch sử, Санкт-Петер- бург 1994, trang 83 [45,8x4,81x3,76m, 355,7/467 tấn, 13/10,5 hải lý, 1750/25 dặm, 8 ngư lôi, độ lặn sâu 50m]
Trên biển đen 4 tàu ngầm loại АГ(АГ-23 - АГ-26) theo lệnh từ 01 tháng 10 năm 1921 đã nhận kí hiệu tương ứng ПЛ-16, ПЛ-17, ПЛ-18 và ПЛ-19, trong năm 1922-1923 chúng được đặt tên là (Шахтёр, Коммунист, Марксист và Политработник)
Cuối năm 1931 phù hợp với mệnh lệnh của lực lượng hải quân hồng quân Liên Xô trong các hạm đội đã thiết lập một trình tự mới để đặt ký tự số cho tàu ngầm (số đầu tiên – số của hải đoàn, số thứ hai – số thứ tự của tàu trong hải đoàn), những tàu ngầm loại АГ của hải đội 2, lữ đoàn tàu ngầm, lực lượng hải quân ở biển đen – được mang số 21 – 25. Với việc loại bỏ số hiệu của lữ đoàn và việc áp dụng ký tự số mới thì các tàu đã được mang tên A-1, A-2…. A-5, được dữ lại tên ban đầu.
A-1 Шахтер [từ 15 tháng 9 năm 1934, trước đó АГ-23, Nga, từ 01 tháng 7 năm 1920 АГ-23 им. тов. Троцкого, Liên Xô, trong đội hình từ 22 tháng 9 năm 1920, từ ngày 01 tháng 10 năm 1921 АГ-23 им. тов. Троцкого № 16, từ ngày 31 tháng 12 năm 1922 Незаможный № 12, từ ngày 12 tháng 6 năm 1923 Шахтёр № 12, từ năm 1929 Шахтёр № 14, từ ngày 14 tháng 11 năm 1931 Шахтёр № 21]
Những người đã chỉ huy tàu ngầm A-1 Шахтер (trước đây АГ-23):
- Камлюхин Анатолий Иванович (1917)
- Соловьев Юрий Всеволодович (13.08.191 – 30.01.1920)
- Иконников Александр Алексеевич (1920 – 1921)
- Пуаре Юрий Витальевич (1921-1922)
- Асямолов Александр Александрович (22.04 – 20.11.1922)
- Иванов Павел Николаевич (1922)
- Рахмин Владимир Петрович (...12.1922 – 04.01.1923 – 10.02.1925)
- Сурин Владимир Сергеевич (1925-1927)
- Сластников Борис Семёнович (01.02.1927-11.07.1927-11.04.1928; 28.04.-22.09.28).
- Воеводин Евгений Александрович (08.07.1929 - 20.10.1930 - 17.03.1931)
Theo Ковалёв Э. А. Короли подплава в море червонных валетов [Воеводин Е. А. Chỉ huy tàu ngầm АГ-23 (08.07.1929 – 20.10.1930 – 17.03.1931) từ ngày 08 tháng 07 năm 1929 , nhưng người ta nói rằng trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm Шахтёр (А-1) Воеводин được bổ nhiệm làm thuyền trưởng chính tàu này từ 01 tháng 05 năm 1929. Từ 01 tháng 10 năm 1930 Воеводин là học viên của khóa học chuẩn bị đảng – chính trị của thuyền trưởng ở viện hàm lâm chính trị - quân sự mang tên Толмачёв, sau khi kết thúc khóa học ông ta nhận nhiệm vụ chỉ huy đóng tàu ngầm Чартист (Л-5) ở thành phố Николаев]
- Лашманов Михаил Васильевич (tạm quyền; 09.09.1929 -...1929)
- Васюнин Пётр Никифорович (... 10.-...12.1930)
- Моралев Николай Константинович (01.05.1931 - 20.11./13.12.1931)
- Кузнецов Константин Матвеевич (20.11.1931 -...1932)
- Кулагин Александр Фёдорович (tạm quyền; ...10.-08.12.1932-05.02.1933)
- Ирбэ Александр Михайлович (05.02.1933-13.04.1936)
- Бурмистров Иван Алексеевич (tạm quyền; 13.04.-07.05.1936)
- Новиков Николай Дмитриевич (... 05.1935-...02.1938)
- Моргун Никифор Георгиевич (29.01.1938-09.09.1940)
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-80, оп. 5, д. 18, trang 134 [mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội biển đen
09 tháng 9 năm 1940 № 0407 thành phố Севастополь
Thuyền trưởng tàu ngầm A-1, lữ đoàn tàu ngầm số 2, trung úy hải quân Моргун Никифор Георгиевич – cho phép thi hành chức vụ thuyền trưởng tàu nghiên cứu thủy văn «Галс» của phòng nghiên cứu thủy văn hạm đội biển đen
Tư lệnh hạm đội biển đen thiếu tướng Октябрьский]
- Бородавский Иван Ильич (12.09.1940-24.01.1941)
- Цуриков Сергей Антонович (01.02.-03.11.1941)
- Буянский Бенцион Соломонович (03.11.1941-26.06.1942)
Những ủy viên quân sự của tàu ngầm A-1 Шахтёр:
Ủy viên quân sự Суворов Александр Григорьевич (20 tháng 10 năm 1927.).
Ủy viên quân sự Кривоногов Василий Иванович (01 tháng 7 năm1929 г)
Ủy viên quân sự Емельянов Дмитрий Егорович (01 tháng 7 năm 1929)
Ủy viên Воронцов Павел Никитич (07 tháng 6 năm 1931 – 11 tháng 10 năm 1935)
Ủy viên chính trị viên trưởng Алексеев Василий Александрович (01 tháng 2 năm 1937 – 04 tháng 3 năm 1937)
Ủy viên chính trị viên Новиков Геннадий Матвеевич (04 tháng 3 năm 1938 г. - năm1940.).
А-4 Политработник (từ ngày 15 tháng 9 năm 1934, trước đó : từ 21 tháng 8 năm 1917 АГ-26, Nga; từ 23 tháng 10 năm 1920 АГ-26 им. тов. Каменева, Liên Xô; từ 01 tháng 10 năm 1921 ПЛ-19, từ 04 tháng 5 năm 1923 Политработник № 15, trong đội hình từ 11 tháng 6 năm 1923 )
___________
Кучер В. А., Мануйлов Ю. В., Семёнов В. П., указ. соч., Т. I, ч. 2, с. 94 [АГ-26, Nga; АГ-26 им. тов. Каменева từ 23 tháng 10 năm 1920; ПЛ-19 từ 01 tháng 10 năm 1921; Политработник từ 15 tháng 5 năm 1923; A-4 từ 15 tháng 10 năm 1934]
Những người đã chỉ huy tàu ngầm A-4 Политработник (trước đây АГ-26) :
*Кельнер Иосиф Викентевич (... 05.1921-...08.1922)
*Ворошилин Борис Митрофанович (17.03.1923-01.01.1929)
*Сластников Борис Семёнович (Tạm quyền; 11-28.04.1928)
*Юшко Владимир Константинович (17.01.-01.05.-08.07.1929-28.03.1931)
Александров Никита Гаврилович (01.04.-15.05.-20.11.1931-08.12.1932)
*Ижбудатов Рустам Ахметович (08.12.1932-26.01.1933-...04.1934)
*Тишкин Николай Венедиктович (Tạm quyền;... 10.-12.1933)
Емельянов Дмитрий Егорович (... 04.1934 -...05.1935)
*Бородач Юлиан Юлианович (... 05.1935-...03.1936)
*Хмелинин Елисей Семёнович (... 03.1936-19.02.1937-...04.1938)
*Клынин Николай Фёдорович (Tạm quyền; 14.06.1936-15.02.1937)
*Касаткин Александр Петрович (19.03.-15.07.1939-25.09.1940)
Thượng úy Касаткин Александр Петрович (Cho phép thi hành chức vụ 19 tháng 3 năm1939, được phê chuẩn ngày 15 tháng 7 năm 1939 - 25 tháng 9 năm 1940 )
*Журавлёв Поликарп Павлович (Tạm quyền; 25.09.1940-07.03.1941)
*Трофимчук Сергей Артемьевич (09.03.1942-12.04.1944)
Касаткин Александр Петрович (02./12.04.1944-12.03.1947)
Б-2 Комиссар (từ 15 tháng 9 năm 1934; trước đó: Пантера, loại Барс, Nga; từ 01 tháng 10 năm 1921 ПЛ № 5, từ 31 tháng 12 năm 1922 Комиссар № 5, từ 14 tháng 11 năm 1931 Комиссар № 13), Liên Xô, hạm đội Baltic, 664/753,4 tấn, lượng dự trữ nổi 20%, kíp tàu biên chế 42 người. Biên chế trong đội hình ngày 23 tháng 7 năm 1916. Sau khi đại tu và hoàn thiện trong năm 1933-1935. Thời gian phục vụ gần 4 năm, thời gian phục vụ tổng cộng hơn 23 năm.
Бережной С. С., ЛысиковаТ. Д., Гигаури В. С. …. , указ. соч., с. 38 [ПАНТЕРА, từ 31 tháng 12 năm 1922 – Комиссар, từ 15.9.1934 -Б-2. Được đóng ngày 3.3.1914 ở Ревел (nhà máy «Ноблесснер»), hạ thủy năm 1916, đưa vào đội hình ngày 23.7.1926… đại tu vào năm 1924 và 1933-1935. ]; trang 40 [650/780 tấn; 68x48x3,8m; 10/8,5 hải lý, 2250/25 dặm, …]
Бережной С. С., указ. соч., с. 74 [ loại «Барс» - (đến ngày 15.9.1934 – Комиссар, đến ngày 31.12.1922 - Пантера. Được đóng ngày 3.7.1914, hạ thủy 16.4.1916, đưa vào đội hình 23.7.1916 và tham gia vào thành phần của hạm đội Baltic, ngày 21.4.1921 tham gia vào lực lượng hải quân biển Baltic và ngày 11.1.1935 tham gia vào hạm đội Baltic. Đại tu trong năm 1924 và 1933-1935 (hoàn thiện), ngày 10.01.1940 được đưa ra khỏi đội hình chiến đấu của hạm đội Baltic và cải biến lại thành tàu ngầm huấn luyện]; trang 75 [Б-2 – 664/753,2 tấn; 68x4,5x4,2 m, 12/7,2 hải lý; 3760/60 dặm…]
Кучер В. А., Мануйлов Ю. В., Семёнов В. П., указ. соч., T. I, ч. 1, с. 175 [ tàu ngầm Пантера (loại «Барс»), ПЛ 5, Комиссар, ПЛ 13, Б-2. Nhà máy «Ноблесснер» thành phố Ревель đax nhận đơn đặt hàng đóng tàu ngầm Пантера , nhưng bởi vì nhà máy này chỉ mơi vừa được xây dựng nên tàu được đưa sang nhà máy đóng tàu Адмиралтейский (ở thành phố Xanh Pê-téc-bua), đưa vào đội hình từ ngày 23 tháng 7 năm 1916, 650/780 tấn. Từ 01 tháng 10 năm 1921 - ПЛ 5. Vào ngày 31 tháng 12 năm 1922 đổi tên thành Комиссар. Từ năm 1931 - ПЛ 75, từ 1934 - Б-2. ]
Ngày lễ hàng năm của tàu ngầm là ngày 31 tháng 8 để tưởng niệm tàu bị chìm vào năm 1919 ở vịnh Финск đảo Сескар
Theo phê chuẩn của РВС СССР ngày 04 tháng 9 năm 1926 thì kíp tàu biên chế là 41 người (7 cán bộ chỉ huy, 19 chỉ huy cấp dưới và 15 chiến sỹ hồng quân). Đến 01 tháng 10 năm 1927 biên chế được tăng lên thêm 1 chỉ huy cấp dưới- chuẩn úy – nhân viên điện báo vô tuyến.
Tàu ngầm được tính trong đội hình của hải đội tàu ngầm số 1, lữ đoàn tàu ngầm, lực lượng hải quân biển Baltic, sau đó được tính trong đội hình УДПЛ УОПП ВМС РККА (19 tháng 4 – 20 tháng 11 năm 1923), rồi lại được đưa về hải đội tàu ngầm số 1 và sắp được đưa ra đại tu và hoàn thiện , sau khi hoàn thành thì từ ngày 29 tháng 11 năm 1935 tàu được biên chế vào đội hình của lữ đoàn tàu ngầm số 2 thuộc hạm đội Baltic và dưới quyền chỉ huy trực tiếp của ban chỉ huy lữ đoàn. Về sau tham gia vào đội hình của:
ОУДПЛ từ 10 tháng 4 năm 1936 đến 26 tháng 3 năm 1938.
Lữ đoàn tàu ngầm số 4 hạm đội Baltic (ban đầu vào đội hình của hải đội tàu ngầm số 19, sau đó với tư cách tàu ngầm hoạt động riêng biệt) – từ 26 tháng 3 năm 1938 đến 21 tháng 2 năm 1940
Lữ đoàn tàu ngầm số 2, КУОПП mang tên Киров – từ 21 tháng 2 năm 1940 đến 11 tháng 2 năm 1941; ОДПЛ КУОПП mang tên Киров – từ 11 tháng 2 năm 1941.
Những người đã chỉ huy tàu ngầm Б-2 Комиссар (trước đây Пантера):
*Палицын Георгий Михайлович (26.08.1915-23.08.1917)
*Максимович Николай Николаевич (23.08.1917-23.01.1918)
*Ждан-Пушкин Александр Александрович (Tạm quyền; 1918)
*Пуаре Юлий Витальевич (06.04.-30.09.1918)
*Якобсон Антон Николаевич (Tạm quyền; 30.09.-...10.1918)
*Иванов Георгий Александрович (Tạm quyền;...10.-26.10.1918)
*Агафонов Сергей Сергеевич (Tạm quyền; 26.16.-13.11.1918)
*Петранди Георгий Михайлович (13.11.1918-...01.1919)
*Бахтин Александр Николаевич (...11.1918-...05.1921)
*Кислицкий Борис Михайлович (15.05.1921-21.05.1923)
*Капустин Николай Николаевич (21.05.1923-29.05.1927)
*Шлиттенберг Карл Янович (29.05./01.06.1927-15.09.1930)
*Шергин Александр Петрович (26.02.27/16.04.1931-29.12.1931)
*Кулишов Илья Данилович (1932)
*Рейснер Лев Михайлович (25.02.1932-26.01.1933)
*Подгородецкий Николай Сергеевич (26.01.1933-26.02.1934)
*Андрушис Пётр Петрович (03.01.1934-26.03.1936)
*Завьялов Николай Григорьевич (13.04.1936-21.04.1938)
Thượng úy , đại úy hải quân (31 tháng 8 năm 1937) Завьялов Николай Григорьевич (được bổ nhiệm bởi mệnh lệnh của quân ủy hải quân ngày 26 tháng 3 năm 1936 – 21 tháng 4 năm 1938)
Đại úy hải quân Иванов Борис Владимирович (được cho phép thi hành chức vụ ngày 21 tháng 4 năm 1938 – 28 tháng 5).
*Бойко Михаил Семёнович (03.06.1938-17.12.1939)
Đại úy hải quân (17 tháng 3 năm 1936), thiếu tá (10 tháng 3 năm 1941) Бойко Михаил Семёнович (được bổ nhiệm bởi mệnh lệnh của quân ủy hải quân ngày 03 tháng 7 năm 1938 – 17 tháng 12 năm 1939). Бойко М. С. phục vụ trong hải quân từ năm 1918, nhận chức vụ chỉ huy trên tàu ngầm từ năm 1927. Thi hành chức vụ của đội viên đánh mìn tàu ngầm Политрук № 11( đến trước ngày 31 tháng 12 năm 1922 là tàu ngầm Нерпа thuộc loại Морж) ngày 01 tháng 11 năm 1927 – 01 tháng 4 năm 1927, Thi hành chức vụ của hoa tiêu tàu ngầm Политработник № 15 (trước đây АГ-26, từ 15 tháng 9 năm 1934 là A-4) 01 tháng 4 năm 1928 – 24 tháng 1 năm 1929, Lính pháo binh trên tàu Красный Аджаристан và đội viên đánh mìn trên tàu ngầm № 13 (trước đây là АГ-24, từ 15 tháng 9 năm 1934 là A-2) của lực lượng biển đen.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-92, оп. 25, д. 11 (Việc kiểm tra cán bộ chỉ huy thông qua phòng đặc biệt của bộ dân ủy nội vụ trong tháng 5 năm 1939) trang 10 [tàu ngầm Б-2, Бойко Михаил Семёнович. Bị Деникин khống chế vào năm 1919, bị khai trừ ra khỏi đảng cộng sản Liên Xô vào năm 1928 vì đời sống tha hóa]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-92, оп. 24, д. 304, л. 1 [Mệnh lệnh của hội đồng quân sự cách mạng lực lượng biển Baltic
3 tháng 1 năm 1932 .№ 1 thành phố Москва
Xét định cho đội viên đánh mìn của tàu ngầm Фрунзовец - Бойко Михаил Семёнович, đã tốt nghiệp lớp tàu ngầm của khóa học chuyên môn của cán bộ trong năm 1931 được phái đi để phục vụ trên tàu ngầm Коммунар ]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-80, оп. 1, д. 164, л. 64 [mệnh lệnh của hội đồng quân sự cách mạng lực lượng biển đen
13 tháng 5 năm 1932 №20 thành phố Севастополь
Cho phép: Бойко Михаил Семёнович, sĩ quan chỉ huy của hải quân Liên Xô, trước đây từ lực lượng biển Baltic – thi hành chức vụ trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm №22 (từ ngày 15 háng 9 năm 1934 là tàu Спартаковец, 18 tháng 6 năm 1933 – 26 tháng 4 năm 1934 là tàu Д-5) của lực lượng biển đen]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-80, on. 1, д. 176, л. 52 [Mệnh lệnh của hội đồng quân sự cách mạng lực lượng biển đen
25 tháng 4 năm 1934 №017 thành phố Севастополь
Trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm № 22 (tàu ngầm Спартаковец,từ 15 tháng 9 năm 1934 là tàu Д-5) Бойко Михаил Семёнович – được miễn nhiệm và thi hành chức vụ mới thuyền trưởng tàu ngầm loại «М» - М-83 cũng của lữ đoàn đó thuộc lực lượng biển đen]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-1848, оп. 3, д. 176, л. 2 [mệnh lệnh của lữ trưởng lữ tàu ngầm, lực lượng biển đen tháng 4 năm 1934 № 119
Đặc phái: đối với thực tập sinh theo chức vụ thuyền trưởng tàu ngầm Бойко – đến tàu ngầm зав. № 239
Lữ trưởng lữ tàu ngầm lực lượng biển đen]
Theo Cơ quan lưu trữ quốc gia Nga của Hải quân, ф. р-1848, оп. 1, д. 19, л. 59 [mệnh lệnh của lữ trưởng lữ tàu ngầm lực lượng biển đen
13 tháng 6 năm 1934№319/36 thành phố Севастополь
Cho phép thi hành trách nhiệm thuyền trưởng tàu ngầm № 61 Бойко Михаил Семёнович (từ ngày 15 tháng 9 năm 1934 tàu ngầm № 61 đổi tên thành tàu ngầm М-51)
Lữ trưởng lữ tàu ngầm lực lượng biển đen]
Theo Cơ quan lưu trữ quân sự, ф. 37837, оп. 4, д. 52, л. 832 [mệnh lệnh của bộ dân ủy quốc phòng Liên Xô
18 tháng 12 năm 1934 № 0666 thành phố Москва
Cho xuất ngũ đối với Бойко Михаил Семёнович - thuyền trưởng M-51, lực lượng biển đen theo ст. 674 п. «е» (vì không có năng lực thực hiện)]
25 tháng 12 năm 1934 Бойко đã trao lại công việc và chức vụ thuyền trưởng tàu ngầm M-51 cho Хмелинин Е. С. và từ 27 tháng 12 đã bị khai trừ ra khỏi các danh sách của lữ đoàn tàu ngầm, tức là bị khai trừ khỏi lực lượng hải quân.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-1678, оп. 1, д. 14, л. 110 [Mệnh lệnh của quân ủy hải quân Xô Viết
3 tháng 7 năm 1938 № 0637 thành phố Москва
Giáo viên của đội huấn luyện bơi ngầm mang tên Киров đại úy hải quân Бойко Михаил Семёнович được bổ nhiệm làm thuyền trưởng tàu ngầm Б-2 (đến trước 31 tháng 12 năm 1922 – tàu ngầm Пантера) hạm đội Baltic
Quân ủy hải quân Liên Xô Смирнов П. А. ]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-1678, оп. 1, д. 87, л. 201 [Mệnh lệnh quân ủy hải quân Liên Xô
13 tháng 12 năm 1939 № 03566 thành phố Москва
Thuyền trưởng tàu ngầm Б-2, lữ đoàn tàu ngầm số 1, đại úy hải quân Бойко Михаил Семёнович được bổ nhiệm làm thuyền trưởng tàu ngầm C-8 thuộc đội đóng lại và đại tu tàu chiến
Quân ủy hải quân Liên Xô tướng Кузнецов]
*Смоляр Николай Иванович (17.12.1939-28.02.1941)
*Быховский Израиль Адольфович (28.02.1941-27.05.1942)
*Лошкарёв Лев Александрович (27.05.-28.08.1942)
Những tàu ngầm loại «Д» seria 1
Бережной С. С., указ. соч., с. 44 [941/1288 tấn, 76,6x6,4x3,81 m, 14/6 hải lý, … 53 người]
Голосовский П.З. Ký bút về lịch sử của trung tâm thiết kế công nghệ biển «Рубин». Tập II. Thiết kế và đóng tàu ngầm. Những tàu ngầm trong giai đoạn những năm 1926-1945. Ленинград 1979, trang 16 [đã đóng tổng cộng 6 tàu ngầm mới - 3 ở nhà máy Балтик , thành phố Ленинград cho hạm đội Baltic {«Декабрист», «Народоволец» và «Красногвардеец» - số hiệu tàu «Д-1», «Д-2» và «Д-3») và 3 ở nhà máy đóng tàu Николаев № 198 cho hạm đội biển đen («Революционер», «Спартаковец», «Якобинец» - số hiệu tàu «Д-4», «Д-5» и «Д-6»).]; trang 224 [seria I, lượng choáng nước 938m3, 78,2x6,4x3,8m, lượng dự trữ nổi 45%, độ lặn sâu: khi hoạt động là 75m, giới hạn là 90m, thuyền viên có 49 người] Дмитриев В. И., указ. соч., с. 265 [76,6x6,4x3,76m, 934/1361 tấn, 14,6x9,5 hải lý, 2570 dặm/16,4 hải lý,8950 dặm/8,9 hải lý, 158 dặm/2,5 hải lý, 14 ngư lôi, kíp tàu 53 người(10 sỹ quan, 15 hạ sỹ quan và 28 thuyền viên)]. Mặc dù sự xuất hiện trong những năm gần đây ( đặc biệt là trong mối liên hệ với lễ kỷ niệm lần thứ 100 của lực lượng tàu ngầm của Nga ) một số lượng lớn các bài báo và sách về lịch sử của các hạm đội tàu ngầm , giới thiệu về chúng có thể đầy đủ hay ít đầy đủ và quan trọng nhất không thể giới thiệu một hình ảnh đáng tin cậy về sự hình thành và phát triển của nó.
Điều đáng tiếc lớn cho đến nay là giai đoạn lịch sử ngắn nhưng rất quan trọng trong lịch sử của các hạm đội Nga – Xô Viết, và trên tất cả , lịch sử về sự hình thành và phát triển của các hạm đội tàu ngầm từ cuối những năm 20 đến đầu cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại . Hầu như không có thông tin đáng tin cậy về lịch sử của sự xuất hiện, tổ chức và cuộc sống hàng ngày và hoạt động của các đơn vị và các binh đoàn tàu ngầm, về những người đã tổ chức ra các hạm đội, mà chỉ trong thời gian ngắn đã trở thành một trong những hạm đội mạnh nhất trên thế giới.
Vì vậy, cho đến đến nay không có sự đồng thuận về thời gian đưa vào hoạt động của nhiều tàu ngầm xây dựng vào những năm 30, trong số đó có tàu ngầm đầu tiên của các tàu ngầm Series I - Д-1 Декабрист.
Trong cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến có tài liệu, trong đó đã đưa ra ngày tháng cụ thể:
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-92, оп. 23, д. 14, л. 237 [Mệnh lệnh của hội đồng quân sự cách mạng lực lượng biển Baltic
13 tháng 11 năm 1930 №272/152 thành phố Кронштадт
Cho tàu ngầm «Декабрист» ngày 19 tháng 11 treo cờ và bắt đầu chiến dịch. Tàu ngầm «Декабрист» được tính vào đội hình của hải đội số 3, lữ đoàn tàu ngầm của lực lượng biển Baltic.
Nội dung: mệnh lệnh điện báo của chỉ huy lực lượng biển, hồng quân Liên Xô từ 12 tháng 11 năm 1930]
Ngày gia nhập vào đội hình lực lượng biển Baltic của hai tàu còn lại loại «Д» cũng có sự khác biệt so với dữ liệu đưa ra bởi В. И. Дмитриевый, указ. соч., с. 240 [Д-2 (Народоволец), được đưa vào đội hình lực lượng biển Baltic ngày 11.10.1931, Д-3 (Красногвардеец), được đưa vào đội hình lực lượng biển Baltic ngày 14.11.1931] và bởi С. С. Бережный , указ. соч., с. 42 [Д-2 (đến trước ngày 21.08.1934 - Народоволец)... đưa vào đội hình lực lượng biển Baltic ngày 6.9.1931. Д-3 (đến trước ngày 21.8.1934 - Красногвардеец)... đưa vào đội hình lực lượng biển Baltic ngày 01.10.1931]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-92, оп. 23, д. 16, л. 211 [mệnh lệnh của hội đồng quân sự cách mạng lực lượng biển Baltic
04 tháng 12 năm 1931 №0121 thành phố Кронштадт
Hội đồng quân sự cách mạng lực lượng biển Baltic ra lệnh:
Đóng ở nhà máy đóng tàu Baltic tàu ngầm Народоволец và Красногвардеец, đưa vào đội hình của lực lượng biển Baltic trong hải đội số 3, lữ đoàn tàu ngầm, tàu đầu tiên từ ngày 23 tháng 9 và tàu thứ hai từ ngày 7thangs 10 năm 1931]
Ngày 14 tháng 11 năm 1931 những tàu ngầm đã nhận số hiệu lữ đoàn là №31,32,33 thì vẫn giữ nguyên tên gọi cũ. Sỹ quan tàu ngầm nổi tiếng của hạm đội sa hoàng Гарсоев А. Н. Đã trờ thành chỉ huy đầu tiên của hải đội mới.
[Mệnh lệnh của hội đồng quân sự cách mạng Liên Xô
15 tháng 8 năm 1930 №691 thành phố Москва
Гарсоев Александр Николаевич, chủ tịch tiểu ban tàu ngầm của ủy ban khoa học – kỹ thuật đã được bổ nhiệm chỉ huy hải đội tàu ngầm của lực lượng biển Baltic từ 01 tháng 9 năm 1930]
Tuy vậy Гарсоев bị đuổi khỏi việc phục vụ trong quân đội Liên Xô từ 01 tháng 1 năm 1931và thuyền trưởng tàu ngầm Цекабрист Секунов Б. А. được làm chỉ huy tạm thời hải đội.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-92, оп. 23, д. 20, л. 282, vào tháng 5 năm năm 1933 chỉ huy hải đội tàu ngầm, lực lượng biển Baltic Скриганов М. П. (được phong ngày 20 tháng 4 năm 1931) đã đưa tàu ngầm Декабрист №21 và Народоволец № 22 theo kênh Беломорско-Балтийский đến thành phố Мурманск gia nhập vào đội hình của hạm đội bắc Baltic. Tàu ngầm thứ 3 Красногвардеец № 23 vẫn còn vài tháng ở lại trong đội hình của lực lượng biển Baltic.
Vào năm 1934 đã áp dụng ký tự số mới cho các tàu ngầm của lực lượng biển hồng quân Liên Xô. Ở đây có những điểm chú ý sau:
Mệnh lệnh № 083 đã được ký bởi chỉ huy lực lượng biển hồng quân liên xô ngày 21 tháng 8 năm 1934, mặc dù nó chỉ được đưa vào thực hiện từ 15 tháng 9 năm 1934.
Những ký tự số mới được đưa vào cùng với số hiệu của lữ đoàn, và tên gọi cũ của các tàu vẫn được giữ nguyên.
Do vậy, tàu ngầm Декабрист № 21 từ 15 tháng 9 năm 1934 chứ không phải từ 21 tháng 8, được đổi tên thành tàu ngầm Декабрист Д-1. Trong cuộc sống hàng ngày và trong những tài liệu chính thức chỉ cho phép sử dụng tên (Декабрист) hoặc chỉ ký hiệu (Д-1). Áp dụng tương tự cho tất cả các tàu hải quân (tàu chiến nổi và tàu ngầm) .
Ở phía tây đã không có cơ sở sửa chữa tàu cần thiết, đặc biệt là để đại tu tàu ngầm, vì vậy chỉ huy tàu cần phải đưa tàu về nhà máy đóng tàu ở thành phố Ленинград để thực hiện việc trên.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-1483, оп. 3, д. 208, л. 19 [Mệnh lệnh của chỉ huy lực lượng biển hồng quân liên xô
25 tháng 9 năm 1936 №0136 thành phố Москва
Tàu ngầm Д-1 của phân hạm đội Bắc, có mặt ở thành phố Ленинград ngày 23 tháng 9 năm 1936 để đại tu, trong toàn bộ thời gian sửa chữa tàu được tăng cường thêm cho đội hình hạm đội Baltic và chịu quản lý ở mọi quan hệ bởi chỉ huy của hạm đội Baltic.
Chỉ huy lực lượng biển hồng quân liên xô tư lệnh hạm đội Орлов]
Về phía mình, tư lệnh hạm đội Baltic – tư lệnh Галлер qua mệnh lệnh № 0333 của mình từ 26 tháng 10 năm 1936 đã ủy quyền lãnh đạo chuẩn bị tác chiến của các thuyền viên tàu Д-1«phục vụ chính trị và giám sát kỷ luật» cho lữ trưởng lữ tàu ngầm số 1. Sau khi hoàn thành sửa chữa và hoàn thiện, tàu ngầm đã quay về Полярное.
Д-1 Декабрист (từ 14 tháng 11 năm 1931 đến 28 tháng 12 năm 1932 là tàu Декабрист №31, đến trước 15 tháng 9 năm 1934 là tàu Декабрист № 21) , được đưa vào đội hình ngày 19 tháng 11 năm 1930 ở hải đội tàu ngầm số 3, lữ đoàn tàu ngầm, lực lượng biển Baltic.
_____________
Голосовский П. З., указ. соч., с. 36 [Д-1 Декабрист, nhà máy đóng tàu và cơ khí № 189 mang tên С. Орджоникидз thành phố Ленинград. Ngày khởi công 05.03.27. Ngày hạ thủy 03.11.28. Ngày ký biên bản nghiệm thu 12.11.30]
Những người đã chỉ huy tàu ngầm Д -1 Декабрист:
*Chỉ huy của hạm đội hồng quân Таубе Генрих Генрихович (năm 1927 . – 01.04.1929 г.).
* Chỉ huy của hạm đội hồng quân Секунов Борис Александрович (15.5.1929– 05.06.1935 .).
* Chỉ huy của hạm đội hồng quân Карпунин Вячеслав Петрович (05.06.1935 – 16.3.1938 .).
* Đại úy hải quân (14.02.1938), thiếu tá (01.02.1939) Колышкин Иван Александрович (được bổ nhiệm theo lệnh của quân ủy hải ngày 16 tháng 3 năm 1938 - 24 tháng 6 năm 1938 )
Thượng úy (31 tháng 8 năm 1937), đại tá hải quân (01 tháng 2 năm 1939) Августинович Михаил Петрович (được phép thi hành chức vụ ngày 24 tháng 6 năm 1938, phê duyệt ngày 28 tháng 6 năm 1938, phê duyệt lần 2 ngày 04 tháng 1 năm 1939 – 29 tháng 10 năm 1939). Vào năm 1939 Августинович đã tốt nghiệp trường hải quân phòng vệ bờ biển Севастополь mang tên ЛКСМУ và đã chuyển đến phân hạm đội bắc Baltic., nơi mà ông ta đã làm trưởng ngành 2 của tàu phục vụ Умба, sau đó thực hiên chức vụ tiểu đoàn pháo binh. Theo mệnh lệnh của chỉ huy lực lượng biển, hồng quân Liên Xô № 013 từ 27 tháng 1 năm 1936 (theo cơ quan lư trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-1483, оп. 3, д. 207, л. 22) cho trung úy Августинович được miễn chức vụ đang giữ và làm học viên lớp chỉ huy của đội huấn luyện bơi lặn thuộc lực lượng biển hồng quân Liên Xô mang tên Киров. Ngày 13 tháng 8 năm 1936 khi kết thúc khóa lý thuyết thì trung úy Августинович đã chuyển làm thực tập sự trên tàu ngầm, sau khi hoàn thành, theo lệnh của quân ủy phòng vệ Liên Xô № 0219 từ 19 tháng 3 năm 1937 ông ta đã nhận bổ nhiệm cho chức vụ trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm Д-3 phân hạm đội bắc Baltic. Trong mối liên hệ với việc chuyển giao hải đoàn số 16 hạm đội Baltic sang phía bắc và sự cần thiết bổ sung cán bộ chỉ huy tàu để chuyển họ vào đội hình của phân hạm đội bắc Baltic, vào tháng 5 năm 1937 trung úy Августинович đã chuyển sang hạm đội Baltic, và ông ta thi hành chức vụ trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm Щ-313. Chức vụ này được phê chuẩn bằng mệnh lệnh của bộ dân ủy phòng vệ Liên Xô № 0903 từ 31 tháng 8 năm 1937. Trong mệnh lệnh đã nêu là tàu ngầm Щ-401, bởi vì từ 28 tháng 6 năm 1937 tàu ngầm Щ-313 trong đội hình hạm đội Bắc đã nhận ký tự số mới là Щ-401. Trong ngày này mệnh lệnh của bộ dân ủy phòng vệ Liên Xô № 0705/п từ 31 tháng 8 năm 1937 cho trung úy Августинович nhận quân hàm niên hạn «thượng úy» . Sau khi bắt và khai trừ khỏi hải quân Liên Xô vào tháng 10 năm 1937 đối với thuyền trưởng tàu ngầm Щ-401 thượng úy Немченко thì thượng úy Августинович được bổ nhiệm làm thuyền trưởng tàu ngầm Щ-401. Theo mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc № 043 từ 17 tháng 5 năm 1938 thượng úy Августинович tiếp tục thi hành chức vụ thuyền trưởng tàu ngầm Д-2 Народоволец đến 24 tháng 6 năm 1938, mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc № 064 từ 24 tháng 06 năm 1938 cho tàu ngầm Д-1 Декабрист (cho phép thực hiện chức vụ ngày 24 tháng 6 năm 1938 và phê chuẩn (hai lần) – bằng mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc № 077 từ 28 tháng 7 năm 1938 và bằng mệnh lệnh của quân ủy hải quân № 021 từ ngày 04 tháng 1 năm 1939. Mệnh lệnh của quân ủy hải quân № 0217/п từ 01 tháng 2 năm 1939 cho thượng úy Августинович được phong quân hàm niên hạn «đại úy», ngày 27 tháng 2 năm 1939 khi thực hiện nhiệm vụ chuẩn bị tác chiến cho tàu ngầm Д-1 dưới sự chỉ huy của đại úy Августинович thì tàu ngầm đã bị mắc cạn trên khu vực vịnh Орловк. Rõ ràng sự việc trên đã làm trì hoãn sự nghiệp phát triển nhanh chóng của Августинович, nhưng ngày 29 tháng 10 năm 1939 theo mệnh lệnh của quân ủy hải quân № 0288520 đại úy Августинович được phép thi hành chức vụ chỉ huy hải đội tàu ngầm số 3, lữ đoàn tàu ngầm hạm đội Bắc, còn qua 9 tháng sau khi nhận quân hàm đại úy thì theo mệnh lệnh của quân ủy hải quân № 02912/п từ ngày 31 tháng 10 năm 1939 ông ta được phong quân hàm niên hạm «thiếu tá». Theo mệnh lệnh của quân ủy hải quân №02277 từ 23 tháng 07 năm 1940 thiếu tá Августинович chuyển sang làm chỉ huy hải đội tàu ngầm số 1, lữ đoàn tàu ngầm, hạm đội Bắc. Và chưa đến 3 tháng sau theo mệnh lệnh của quân ủy hải quân №03267 từ ngày 03 tháng 10 năm 1940 đã phong cho Августинович làm tham mưu trưởng lữ đoàn tàu ngầm, hạm đội Bắc. Sau thảm họa của tàu ngầm Д-1 và cách chức lữ trưởng tàu ngầm hạm đội Bắc – trung tá Павлуцкого Д. А. thì tthieeus tá Августинович được tạm thời thi hành chức vụ lữ trưởng tàu ngầm hạm đội Bắc và ở lại chức vụ này đến ngày 15 tháng 1 năm 1941, khi đó theo mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc № 07 từ ngày 15 tháng 1 năm 1941 Августинович bàn giao lại công việc và chức vụ lữ trưởng tàu ngầm, hạm đội Bắc và cũng bổ nhiệm lại chức vụ này cho trung tá Виноградов Н. И. còn Августинович thì quay lại với chức vụ trực tiếp của mình là tham mưu trưởng lữ đoàn tàu ngầm, hạm đội Bắc.
Đại úy (03 tháng 11 năm 1939) Ельтищев Фёдор Максимович (cho phép thi hành chức vụ ngày 27 tháng 10 năm 1939, được phê chuẩn ngày 16 tháng 12 năm 1939, đã chết ngày 13 tháng 11 năm 1940 cùng với tàu ngầm)
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-1678, оп. 1, д. 84, л. 22 [mệnh lệnh của quân ủy hải quân Liên Xô
27 tháng 10 năm 1939 № 02885 thành phố Москва
Thuyền trưởng tàu ngầm Щ-403 hải đội số 2 thượng úy Ельтищев Фёдор Максимович – được thôi chức vị hiện tại và cho phép thi hành chức vụ thuyền trưởng tàu ngầm Д-1 hải đội tàu ngầm số 1, lữ đoàn tàu ngầm, hạm đội Bắc.
Quân ủy hải quân Liên Xô tư lệnh Кузнецов]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-1678, оп. 1, д. 84, л. 466 [mệnh lệnh của quân ủy hải quân Liên Xô
3 tháng 11 năm 1939 №03001/п thành phố Москва
Cho thuyền trưởng tàu ngầm Щ-403 thuộc hải đội tàu ngầm số 2 thượng úy Ельтищев Фёдор Максимович – được phong quân hàm «đại úy»
Quân ủy hải quân Liên Xô tư lệnh Кузнецов]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-1678, оп. 1, д. 87, л. 466 [mệnh lệnh của quân ủy hải quân Liên Xô
16 tháng 12 năm 1939 №… thành phố Москва
Thượng úy Ельтищев Фёдор Максимович – được phê chuẩn vào chức vụ thuyền trưởng tàu ngầm Д-1.
Quân ủy hải quân Liên Xô tư lệnh Кузнецов]
Các ủy viên quân sự tàu ngầm Д-1 Декабрист:
Ủy viên quân sự Ралько Николай Дмитриевич (01 tháng 1 năm 1929 )
Ủy viên quân sự Николай Дмитриевич (01 tháng 1năm 1929 )
Chính trị viên Фёдоров Иван Фёдорович (01 tháng 2 năm 1938. - 28 tháng 6 năm 1938).
Ủy viên quân sự , từ 12 tháng 8 năm 1940 thay cho chính trị viên đương nhiệm (28 tháng 6 năm 1938 ), chính trị viên Прохоренко Пётр Михайлович (được phép thi hành chức vụ ủy viên quân sự ngày 28 tháng 6 năm 1938, được phê chuẩn bởi mệnh lệnh của quân ủy hải quân № 03624 từ ngày 11 tháng 12 năm 1939 – 13 tháng 11 năm 1940. Đã chết cùng tàu ngầm ). Vào năm 1938 Прохоренко đã tốt nghiệp khoa quân sự biển của trường đại học quân sự - chính trị mang tên Энгельс và đã được phong làm ủy viên quân sự tàu ngầm Щ-402, hạm đội Bắc.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-1678, оп. 1, д. 132, л. 89 [mệnh lệnh của quân ủy hải quân Liên Xô. Nội dung:về sự khai trừ tàu ngầm Д-1 khỏi đội hình của hạm đội Bắc.
31 tháng 12 năm 1940 №01020 thành phố Москва
Khai trừ tàu ngầm Д-1 ra khỏi đội hình của hạm đội Bắc từ ngày 15 tháng 11 năm 1940
Quân ủy hải quân Liên Xô tư lệnh Кузнецов]
Д-5 Спартаковец (đến trước ngày 15 tháng 9 năm 1934 là tàu Спартаковец № 12), được đưa vào đội hình của hải đội tàu ngầm số 1, lữ đoàn tàu ngầm, lực lượng biển đen ngày 05 tháng 4 năm 1931
____________
Голосовский П. З., указ. соч., с. 36 [Д-5 Спартаковец, nhà máy đóng tàu Николаевский № 198 mang tên А. Марти, thành phố Николаев. Ngày khởi công 25.03.1927. Ngày hạ thủy -. Ngày ký nhận biên bản nghiệm thu 05.04.1931]
Chỉ huy tàu ngầm Д-5 Спартаковец: thiếu tá Савицкий (được phong bởi mệnh lệnh quân ủy hải quân vào năm 1939 – 21 tháng 10 năm 1941) .
Д-6 Якобинец (đến trước ngày 15 tháng 9 năm 1934 là tàu Якобинец № 13), được đưa vào đội hình của hải đội tàu ngầm số 1, lữ đoàn tàu ngầm, lực lượng biển đen từ ngày 12 tháng 6 năm 1931.
___________
Голосовский П. З., указ. соч., с. 36 [ Д-6Якобинец, nhà máy đóng tàu Николаевский № 198 mang tên А. Марти, thành phố Николаев. Ngày khởi công 25.03.1927. Ngày hạ thủy -. Ngày ký nhận biên bản nghiệm thu 15.06.1931]
Những người chỉ huy tàu ngầm Д-6 Якобинец :
Chỉ huy hạm đội hồng quân Жимаринский Николай Алексеевич (1928 -13 tháng 4 năm 1932). Mệnh lệnh № 330 của hội đồng quân sự cách mạng Liên Xô được ký ngày 13 tháng 4 năm 1932 về sự bổ nhiệm thuyền trưởng tàu ngầm № 13 Якобинец Жимаринский Н. А. làm chỉ huy hải đội tàu ngầm của trung tâm huấn luyện bơi lặn, hải quân Liên Xô. Cùng với đó, theo cơ quan lưu trữ quân sự quốc gia Nga, ф. 37837, оп. 18, д. 112, с. 105, trong «danh sách cán bộ của lực lượng biển hồng quân Liên Xô» xuất bản năm 1932, đã nêu rằng từ 01 tháng 5 năm 1931 chức vụ thuyền trưởng của tàu ngầm này được thi hành bởi Кулишов. Rõ ràng, theo mệnh lệnh của hội đồng quân sự cách mạng lực lượng biển từ tháng 5 năm 1931 Жимаринский được ban chỉ huy lực lượng biển đen sử dụng vào những chức vụ khác.
Chỉ huy hạm đội hồng quân Liên Xô Кулишов Илья Данилович (01 tháng 5 năm 1931 – 13 tháng 11 năm 1933) từ 14 tháng 9 năm 1932 chỉ huy và ủy viên quân sự.
Chỉ huy hạm đội hồng quân Liên Xô Нестеров Илья Михайлович (09 tháng 4 năm 1934 – 09 tháng 3 năm 1936)
Chỉ huy hạm đội hồng quân Liên Xô, đại úy (04 tháng 3 năm 1938) Новиков Николай Дмитриевич (được phéo thi hành chức vụ ngày 29 tháng 1, được phê chuẩn ngày 26 tháng 3 năm 1938 – 29 tháng 10 năm 1939)
Đại úy Израилевич Иосиф Семёнович (được bổ nhiệm bởi mệnh lệnh quân ủy hải quân ngày 29 tháng 10 năm 1939 – 03 tháng 04 năm 1941)
Các ủy viên quân sự của tàu ngầm Д-6 Якобинец:
Ủy viên quân sự Новинский Василий Яковлевич (01 tháng 5 năm 1930 – 19 tháng 5 năm 1934)
Ủy viên quân sự , chính trị viên Вершинин Фёдор Павлович (19 tháng 5 năm 1934- 04 tháng 3 năm 1938)
Ủy viên quân sự, chính trị viên Калиниченко Николай Алексеевич (04 tháng 3 năm 1938 – 26 tháng 8 năm 1938)
Ủy viên quân sự, chính trị viên Гусев Иван Егорович (23 tháng 8 năm 1938)
Những tàu ngầm loại «К» seria XIV
Голосовский П. 3., указ. соч., с. 181, 182, 191 [năm 1934 ở НИВКе đã thực hiện soạn thảo bản vẽ phác thảo tàu ngầm tuần tiễu (thiết kế «КЭ»). Tàu này cần có vận tốc trên mặt nước là 22-24 hải lý, cho phép nó có thể gia nhập vào đội hình của đội tàu tuần tiễu, ngoài ngư lôi tàu còn được vũ trang mìn hàng rào, tức là giống như tàu loại «Ленинец», không chỉ là tàu ngư lôi mà là tàu liên hợp các loại vũ khí.
Sự khác biệt so với thiết kế tàu ngầm loại «Ленинец» là trên thiết kế «КЭ» mìn được để trong két đặc biệt, được bố trí dưới trạm trung tâm, đồng thời nó còn đóng vai trò là két dằn chính (két mìn – dằn). Việc ném mìn cần phải thực hiện qua tàu đặc biệt, tàu này đồng thời thực hiện nhiệm vụ lấp đầy két mìn - dằn này.
Thiết bị phóng mìn đã giải thoát đuôi tàu khỏi sống ngang đuôi tàu, có trên các tàu ngầm cùng với thiết bị ném mìn ở đuôi (những tàu ngầm loại «Ленинец»), và cho khả năng tăng thêm tính tối ưu các đường viền ở đuôi tàu. Nếu không có điều này thì theo ý kiến của tác giả thiết kế đã không thể đạt được vận tốc trên mặt nước theo quy định.
Nhưng thậm chí với những điều kiện này thì bài toán đạt được tốc độ trên mặt nước cao của thiết kế là khá khó khăn. Đã soạn thảo gần 20 phương án bản vẽ tuyến hình khác nhau trước khi tìm được bản vẽ cho phép đạt được vận tốc đề ra.
Phương án bố trí mìn đã chọn gặp phải sự phản đối từ phía những người thiết kế - thủy thủ và từ những chuyên gia về mìn. Không đề cập đến thực tế là thiết bị mìn giả định trên cần phải tạo ra các loại mìn mới, ngoài ra việc cho phép ném mìn dưới thân tàu cũng gây ra những nghi ngờ cho các chuyên gia, họ tính rằng với việc bố trí mìn như vậy có thể làm xuất hiện sự nổ tàu do chính mìn của mình. Thêm vào đó, các quả mìn được đặt ở trong két mìn – dằn thì khi mỗi lần tàu lặn, chúng lại bị ướt và làm cho hạ thấp mức độ tin cậy của mìn và của thiết bị ném mìn so với phương pháp để mìn được «khô ráo» khi mà mìn được để trong ống mìn và việc bị ướt chỉ bị trước khi bố trí mìn.
Khi nghiệm thu những tàu ngầm seria XIV thì hội đồng nghiệm thu đã đánh dấu vào bản nghiệm thu những ưu điểm chất lượng của loại tàu mới và những khuyết điểm riêng, như sự chúi mũi của thượng tầng trên mặt nước ở vận tốc lớn nhất và trung bình khi trạng thái biển trên cấp 5, sự ngập hầm truyền không khí cho động cơ diesel, kẹt thiết bị truyền động đẩy của bánh lái mũi ngang trong thời gian mùa đông, tiếng ồn làm việc của các hệ thống máy móc khi tàu trên hành trình nổi và những khuyết điểm khác.
Để giảm sự chúi mũi trên sóng biển ở phần mũi tàu đã hàn легкие горбообразные наделки, có phần mở rộng ở lườn và vỏ nghiêng, thử nghiệm этих наделок cho được kết quả tốt.
__________
Бережной С. С., указ. соч., с. 69 [1487/2102 tấn; 97,7 х 7,4 х 4,1 м; 21,1/10,3 hải lý, 14040/176 dặm; 62 người.]
Голосовский П. З., указ. соч., с. 227,228 [XIV seria, độ choáng nước 1487 m3,
98,7 х 7,4 х 4 м; lượng dự trữ nổi 41%; độ lặn sâu: hoạt động 80 м, dới hạn 100 м; thuyền viên 64 người.]
Дмитриев В. И., указ. соч., с. 268 [97,6 х 7,4 х 4,07 м; 1500/2117 tấn;, 22,5/10 hải lý, 16500/175 dặm;, 24 ngư lôi…]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-92, оп. 7, д. 247, л. 39, 25 ngày 25 tháng 3 năm 1937 tư lệnh hạm đội Baltic tướng Сивков đã ký lệnh cho lữ trưởng lữ tàu ngầm số 1 Самборский Е. К. được ấn định đến ngày 01 tháng 9 năm 1937 biên chế một tàu ngầm loại КЭ theo biên chế №36/621 và chuẩn bị đến ngày 01 tháng 4 năm 1937 tiếp tục đối với hai tàu như vậy nữa
Theo hợp đồng với nhà máy № 194 mang tên Марти, thành phố Ленинград, tàu ngầm đầu tiên trong số 3 tàu ngầm, tàu № 451 (về sau K-1) cần được đưa vào hoạt động trước ngày 01 tháng 10 năm 1937 và theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-92, оп. 7, д. 247, л. 58, tàu được biên chế cho hạm đội Bắc.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-92, оп. 7, д. 247, л. 71, 23 ngày 23 tháng 4 năm 1937 quân ủy phòng vệ Liên Xô nguyên soái liên bang Xô-Viết Ворошилов phê chuẩn tên gọi cho những tàu ngầm loại «КЭ» của hạm đội Baltic [các tàu ngầm loại «КЭ» của hạm đội Baltic được đặt tên bao gồm: ký tự «К» và số thứ tự từ 21 đến 40] tức là, từ K-21 đến K-40. Đối với hạm đội Bắc phê chuẩn tên gọi từ K-1 đến K-20, còn đối với hạm đội thái bình dương bắt đầu từ K-51.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-92, оп. 23, д. 74, л.402 [ Mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Baltic
27 tháng 5 năm 1940 №0257 thành phố Кронштадт
Bổ nhiệm thuyền trưởng cho chiến dịch năm 1940 trong sự tương ứng với mệnh lệnh của quân ủy hải quân №72 từ ngày 5 tháng 2 năm 1940 và №0298 từ ngày 21 tháng 6 năm 1939
Tàu K-1 thuyền trưởng tàu ngầm đại úy Чекин.
Tàu K-2 thuyền trưởng tàu ngầm đại úy Уткин
Tàu K-3 thuyền trưởng tàu ngầm đại úy Корсак
Tàu K-21 thuyền trưởng tàu ngầm thiếu tá Тузов
Tàu K-22 thuyền trưởng tàu ngầm thiếu tá Потапов
Tàu K-23 thuyền trưởng tàu ngầm đại úy Журков
Tư lệnh hạm đội Baltic thiếu tướng Трибуц]
14 tháng 3 năm 1940 quân ủy hải quân Кузнецов kêu gọi trong ủy ban trung ương Đảng cộng sản Nga và chính phủ với yêu cầu cho phép trong năm 1940 đưa đến hạm đội Bắc một vài tàu chiến theo hệ thống đường thủy nội địa từ đội hình hạm đội Baltic và từ số tàu vừa gia nhập từ nền công nghiệp, trong số đó có 6 tàu ngầm loại «К» (K-1, K-2, K-3, K-21, K-22, K-23). Chỉ sau lần kêu gọi chính phủ lần hai thì tàu ngầm K-1 và K-2 đã chuyển đến hạm đội Bắc.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-92, он. 23, д. 74, л. 443 [mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Baltic
Ngày 11 tháng 6 năm 1940 №0278 thành phố Кронштадт
Những tàu ngầm của hải đội 20 K-1 và K-2 được tính đưa vào phục vụ và nâng cao lá cờ hải quân Liên Xô từ ngày 26 tháng 5 năm 1940. Trong ngày này các tàu ngầm K-1 và K-2 tham gia vào chiến dịch.
Nội dung: mệnh lệnh của quân ủy hải quân Liên Xô № 0316 từ ngày 26 tháng 05 năm 1940
Tư lệnh hạm đội Baltic thiếu tướng Трибуц]
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-970, оп. 2, д. 171 (Mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc ngày 01 tháng 1 – 31 tháng 12 năm 1940), л. 216 [mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc. Nội dung: về việc lấy vào đội hình lữ đoàn tàu ngầm hạm đội Bắc tàu ngầm K-1.
20 tháng 8 năm 1940 №0287 thành phố Полярное
Lấy tàu ngầm K-1 vào đội hình hải đội tàu ngầm số 1, lữ đoàn tàu ngầm, hạm đội Bắc từ ngày 27 tháng 7 năm 1940 cùng với thời kỳ tổ chức đến ngày 15 tháng 9 năm 1940.
Thủ trưởng cục hậu cần và thủ trưởng các phòng hậu cần của hạm đội cung cấp cho tàu ngầm K-1 tất cả các loại khẩu phần lương thực.
Nội dung: mệnh lệnh của quân ủy hải quân № 00121 từ 23 tháng 5 năm 1940
Tư lệnh hạm đội Bắc thiếu tướng Головко
Thành viên hội đồng quân sự hạm đội Bắc chính ủy lữ đoàn Николаев
Tham mưu trưởng hạm đội Bắc thiếu tướng Кучеров]
K-2, зав. № 452, đưa vào hoạt động ngày 26 tháng 5 năm 1940 cùng với việc gia nhập vào hải đội tàu ngầm số 20, hạm đội Baltic.
__________
Những người đã chỉ huy tàu ngầm K-2 :
Thượng úy (22 tháng 3 năm 1936) , đại úy (17 tháng 12 năm 1938), thiếu tá (11 tháng 12 năm 1940) Уткин Василий Прокофьевич (được bổ nhiệm bởi mệnh lệnh quân ủy hải quân ngày 21 tháng 7 năm 1938 – tháng 9 năm 1942)
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф.р-970, оп.2, д. 165, л. 67 [mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc. Nội dung : về việc đưa vào đội hình hạm đội Bắc tàu ngầm K-2
24 tháng 7 năm 1940 № 00251 thành phố Полярное
Đưa tàu ngầm K-2 vào đội hình hạm đội Bắc từ ngày 07 tháng 7 năm 1940 cùng với thời gian tổ chức đến 15 tháng 8 năm 1940
Tư lệnh hạm đội thiếu tướng Дрозд
Ủy viên hội đồng quân sự hạm đội Bắc chính ủy hải đội Смирнов
Tham mưu trưởng hạm đội Bắc đại tá Голубев]
Tháng 11 năm 1940, thêm một lời kêu gọi của quân ủy hải quân Кузнецов với lời yêu cầu : dịch chuển trong hàng hải theo hệ thống biển trắng – Baltic để tăng cường cho hạm đội thái bình dương và hạm đội Bắc từ lực lượng của hạm đội Baltic và từ số 6 tàu ngầm loại «K» (К-3, К-21, K-22, К-23, К-51, К-52) vừa mới được đóng. Sự dịch chuyển không diễn ra trong mối liên hệ với việc bùng nổ chiến tranh thế giới thứ 2.
Từ 3 tàu ngầm loại «K» được đóng ở nhà máy № 196 Судомех, thành phố Ленинград (зав. №№ 108,109 và 110), tàu ngầm đầu tiên đã được hạ thủy, hoàn thiện trên nước và đi kiểm nghiệm – tàu ngầm зав. № 109. Nó được biên chế cho hạm đội Baltic, theo tài liệu thì nó có số ký hiệu (chiến dịch hay số hiệu trên boong) là K-21 và đã gia nhập vào đội hình hạm đội Baltic ngày 07 tháng 08 năm 1940.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-1678, оп. 1, д. 129, л. 200 [mệnh lệnh của quân ủy hải quân Liên Xô
7 tháng 8 năm 1940 №0556 thành phố Москва
Biên bản nghiệm thu № 356 cho tàu ngầm seria XIV K-21 được đóng bởi nhà máy № 196 – Tôi phê chuẩn
Quân ủy hải quân tướng Кузнецов]
Dù vậy, đến ngày 10 tháng 8 năm 1940 tướng Кузнецов đã thay đổi quyết định của mình và đã ký mệnh lệnh mới № 0565
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-1678, оп. 1, д. 129, л. 217 [Mệnh lệnh của quân ủy hải quân Liên Xô
10 tháng 8 năm 1940 № 0565 thành phố Москва
Đưa tàu ngầm K-21 seria XIV nhận được từ nền công nghiệp vào đội hình lữ đoàn tàu ngầm số 1 từ ngày 7 tháng 8 năm 1940, cùng với nội dung theo biên chế № 36/621 và đổi tên thành K-22.
Trong giai đoạn thử nghiệm bàn giao tàu ngầm với nhà máy № 108 thì tàu được đặt tên là K-21.
Quân ủy hải quân Liên Xô tướng Кузнецов]
Rõ ràng rằng, tư lệnh hạm đội Baltic phó đô đốc Трибуц đã vội vã ký mệnh lệnh № 0431của mình ngày 16 tháng 8 năm 1940, trong đó đề xuất «đưa vào đội hình của lữ đoàn tàu ngầm số 1 và treo cờ hải quân Liên Xô từ ngày 28 tháng 7 năm 1940 đối với tàu ngầm K-21 »
Cùng với việc quân ủy hải quân đã ký mệnh lệnh № 0565 từ ngày 10 tháng 8 năm 1940 thì mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc № 0431 từ ngày 16 tháng 8 năm 1940 đã mất hiệu lực, vì điều này mà Трибуц đã ký mệnh lệnh mới
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-92, оп. 23, д. 74, л. 843 [Mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Baltic
4 tháng 9 năm 1940 № 0488 thành phố Кронштадт
Treo cờ hải quân Liên Xô và đủa vào đội hình hạm đội Baltic nhũng tàu ngầm nhận được từ nền công nghiệp
…………..
3. Từ ngày 7 tháng 8 năm 1940 – tàu ngầm K-21 của nhà máy № 109 được đưa vào đội hình lữ đoàn tàu ngầm số 1 sớm hơn theo mệnh lệnh № 0431 của tôi từ ngày 16 tháng 8 cùng với nội dung theo biên chế № 36/621 và đổi tên thành tàu ngầm K-22
Tàu ngầm K-22, của nhà máy № 108, trong giai đoạn thử nghiệm được đặt tên là K-21
Nội dung: mệnh lệnh của quân ủy hải quân Liên Xô № 0565 từ 10.08.1940
Tư lệnh hạm đội Baltic phó đô đốc Трибуц]
Trong giai đoạn hoàn thiện và thực hiện thử nghiệm tàu ngầm K-21 được đưa vào đội hình đội đóng mới và đại tu tàu ngầm hạm đội Baltic, còn từ ngày 17 tháng 10 năm 1940 đưa vào hải đội tàu ngầm số 19 của đội đóng mới và đại tu tàu ngầm.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-92, оп. 23, д. 75, л. 310 [mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Baltic
23 tháng 12 năm 1940 №0712 thành phố Кронштадт
Trên tàu ngầm K-21, biên chế № 36/621, được tính vào đội đóng mới và đại tu tàu ngầm, treo cờ hải quân, được đưa vào đội hình từ ngày 21 tháng 12 năm 1940 và đóng quân ở thành phố Кронштадт.
Nội dung: bức điện báo của phó quân ủy hải quân tướng Галлер № Н-705 từ ngày 21.12.1940
Tư lệnh hạm đội Baltic phó đô đốc Трибуц]
Trong mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Baltic № 0712 từ 23 tháng 12 năm 1940 thì ngày gia nhập vào đội hình của tàu ngầm K-21 là 21 tháng 12 năm 1940, dù vậy sau đó 2 ngày đã có mệnh lệnh mới № 0992 của quân ủy hải quân từ ngày 25 tháng 12 năm 1940.
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-1678, on. 1, д. 132, л. 260 [mệnh lệnh của quân ủy hải quân Liên Xô
25 tháng 12 năm 1940 №0992 thành phố Москва
Biên bản nghiệm thu № 378 đối với tàu ngầm seria XIV K-21 được đóng tại nhà máy №196, phê chuẩn.
Lệnh: cho hội đồng sự hạm đội Baltic
Tàu ngầm K-21 được đưa vào hoạt động và tính vào trong đội hình của hải đội số 19 lữ đoàn tàu ngầm số 1.
Đảm bảo ngay cho tàu ngầm K-21 lượng thuyền viên đầy đủ.
Quân ủy hải quân Liên Xô tướng Кузнецовъ K-21(đến trước ngày 7 tháng 8 năm 1940 là tàu K-22) đưa vào hoạt động ngày 25 tháng 12 năm 1940 và được tính vào trong đội hình hải đội tàu ngầm số 19 lữ đoàn tàu ngầm số 1 hạm đội Baltic
Голосовский П. 3., указ. соч., с. 193 [K-21, nhà máy № 196 Судомех, thành phố Ленинград, ngày khởi công 10.12.37. Ngày hạ thủy 16.08.39. Ngày ký biên bản nghiệm thu 30.11.40]
Những người đã chỉ huy tàu ngầm K-21 (đến trước ngày 07 tháng 8 năm 1940 là tàu K-22) :
Thiếu tá Потапов Леонид Степанович (được bổ nhiệm theo mệnh lệnh của quân ủy hải quân ngày 29 tháng 5 năm 1938 – 30 tháng 04 năm 1941)
Theo cơ quan lưu trữ quốc gia liên bang Nga về hạm đội tàu chiến, ф. р-92, оп. 25, д. 11 (Kiểm tra cán bộ chỉ huy bởi phòng đặc biệt bộ dân ủy nội vụ trong tháng 5 năm 1939) , л. 7 [tàu ngầm Щ-302, Потапов Леонид Степанович. Cha làm quan chức trong chính quyền Nga hoàng và có thế lực. Bản thân Потапов có sự gắn bó mật thiết với Буц và Кунатицкий – những người đã bị bắt bởi cơ quan bộ dân ủy nội vụ vì hoạt động gián điệp trong năm 1937]
Thượng úy (14 tháng 12 năm 1938), đại úy (01 tháng 2 năm 1939), thiếu tá (31 tháng 10 năm 1939) Жуков Аркадий Алексеевич (được bổ nhiệm bởi mệnh lệnh của quân ủy hải quân ngày 30 tháng 4 năm 1940 – 03 tháng 3 năm 1942), ngày 18 tháng 9 năm 1937 trung úy Жуков đã bắt đầu làm chỉ huy tàu ngầm Щ-403 thuộc lữ đoàn tàu ngầm hạm đội Bắc và đã thi hành chức vụ đến ngày 24 tháng 6 năm 1938, làm thuyền trưởng tàu ngầm Д-2 (bổ nhiệm ngày 23 tháng 6, phê chuẩn theo mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội Bắc ngày 28 tháng 7 năm 1938 và theo mệnh lệnh của quân ủy hải quân ngày 04 tháng 1 năm 1939), làm thuyền trưởng tàu K-22 (đến trước ngày 07 tháng 08 năm 1940 là tàu K-21) – (01-23 tháng 9 năm 1939), đưa vào hoạt động ngày 07 tháng 8 năm 1940 trong đội hình của lữ đoàn tàu ngầm số 1 hạm đội Baltic.
Голосовский П. 3., указ. соч., с. 193 [К-22, завод № 196 Судомех, г. Ленинград, зав. № 109. Дата закладки 05.01.38 г. Дата спуска на воду 03.11.38 г. Дата подписания приёмного акта
г.]
Г1Л К-22 (до 07 августа 1940 г. К-21) командовали:
Старший лейтенант (14 февраля 1938 г.), капитан-лейтенант (01 февраля 1939 г.), капитан
ранга (31 октября 1939 г.) Жуков Аркадий Алексеевич (назначен приказом НК ВМФ 01 сентября 1939 г. - 23 сентября 1939 г.).
Капитан-лейтенант (14 марта 1936 г.), капитан 3 ранга (31 октября 1939 г.) Тузов Иван Николаевич - командир К-21 (назначен приказом НК ВМФ 23 сентября 1939 г. - 07 августа 1940 г.), командир К-22 (назначен приказом НК ВМФ 07 августа 1940 г. - 30 апреля 1941 г.).
Капитан 3 ранга Котельников Виктор Николаевич (назначен приказом НК ВМФ 30 апреля 1941 г. - 12 октября 1942 г.).





Приложенные файлы

  • docx 15513640
    Размер файла: 865 kB Загрузок: 0

Добавить комментарий